Thứ Năm, 12 tháng 1, 2012

CHUYỆN ĐẤT ĐAI TỪ TIÊN LÃNG - TÔI YÊU BÁC NÔNG PHU ĐỘI MƯA NẮNG BÊN BỜ BIỂN ĐÔNG...

Tâm trạng: Vui vẻ

Đôi điều xin thưa với Thứ Trưởng Đặng Hùng Võ

Đăng ngày: 20:47 12-01-2012
Thư mục: Tổng hợp

  Cựu thứ trưởng Đặng Hùng Võ vừa lên tiếng về vụ Đoàn Văn Vươn trên báo Tuổi Trẻ hôm qua là một điều đáng mừng. Ý kiến của ông Võ dễ thuyết phục vì không dựa lên tình cảm mà dựa lên luật lệ nhà nước. Hy vọng các cơ quan hữu trách theo tinh thần của Thứ trưởng Đặng Hùng Võ để giải quyết thỏa đáng vấn đề này. Tuy vậy, các ý kiến của ông Võ, trên phương diện kỹ thuật, theo tôi vẫn có một vài lấn cấn, không phải do kiến thức, mà đến từ « cơ chế » của nhà nước. Tôi nghĩ rằng luật lệ áp dụng cho trường hợp « thâu hồi đất » của ông Vươn có một số điều mâu thuẫn, nhất là các điểm về thể lệ giao đất, diện tích tối đa đất được giao, thời hạn được sử dụng đất, phương thức thâu hồi đất... Ngoài ra còn có những mâu thuẫn giữa tính công bằng của xã hội chủ nghĩa với quyền tư hữu của kinh tế thị trường, hoặc giữa « tư điền » là tập tục ngàn năm của dân tộc Việt với « sở hữu đất đai thuộc về toàn dân » của chủ nghĩa xã hội. Nếu đúng như tôi nghĩ, trường hợp cá biệt của Đoàn Văn Vươn, nếu chỉ dựa hoàn toàn trên pháp luật (mà pháp luật có điều không ổn) thì việc giải quyết  chắc chắn sẽ gây nên những điều oan ức. Việc nổ súng đáng tiếc trong khi giải tỏa đất đã nói trước việc này. Hy vọng ông Võ (hay người có thẩm quyền khác) sẽ lên tiếng giải thích. Các thắc mắc của tôi gồm các điểm :
1/ Phân loại khu vực đất :
Thứ trưởng Đặng Hùng Võ nhận xét : « theo Luật đất đai năm 1993, cụ thể là theo nghị định 64 về việc giao đất sản xuất đối với đối tượng ở đây là giao đất sản xuất trồng cây hằng năm, nuôi trồng thủy sản, làm muối... »
Tôi nghĩ khác. Khu vực gọi là « đất » mà ông Vươn sử dụng từ năm 1993 không thuộc vào bất kỳ một loại « đất » nào đã được qui định theo điều 11 bộ Luật đất đai năm 1993 hay điều 13 bộ Luật đất đai năm 2003.
Thật vậy, trước khi « khu vực đất » này được giao cho ông Vươn thì nó không thể gọi là « đất » để « trồng cây hàng năm », cũng không thể gọi đơn thuần là « đầm » để « nuôi trồng thủy sản », và nó cũng không thể sử dụng vào việc « làm muối » như Thứ Trưởng Võ đã nói. Nếu chiếu theo Luật Hồng Đức thì khu vực này không thuộc diện « điền » (không thể trồng trọt hay làm muối – diêm điền), cũng không thuộc diện « thổ » (không thể định cư), và cũng không thuộc diện « trạch » (không thể nuôi cá).
Đây là một khu vực đất đang bồi, thường xuyên ngập nước biển và hàng năm chịu nhiều thiên tai bão lụt. Theo luật của các (nước Tây phương) hay Luật về thổ trạch ở VN các thời kỳ trước, vì lý do an ninh, các vùng đất này không được nhà nước cấp cho dân, hay không khuyến khích cho dân khai hoang, vỡ hóa... nhằm định cư hay khai thác kinh tế.
Vấn đề đặt ra, theo pháp luật, nhà nước có thể cấp cho ông Vươn khai thác « khu vực đất » đó hay không ? Nhà nước có trách nhiệm gì nếu tai nạn do thiên tai (bão, lụt) đổ xuống ?
2/ Tính không hợp lý của việc thâu hồi đất trong bộ Luật về đất đai.
Nhưng « khu vực đất » này vẫn được chính quyền địa phương Hải Phòng cấp cho ông Vươn khai thác, bất chấp những hiểm nguy có thể gây ra cho cá nhân và gia đình ông Vươn.
Để biến khu vực « đất không thể sinh sống » thành một khu vực xếp vào hạng « điền trạch » (tức vừa định cư vừa nuôi thủy sản), ông Vươn đã sử dụng kiến thức kỹ sư của mình để làm các việc sau :
a)    Đắp một con đê dài 2 cây số để ngăn lũ lụt, (con đê này đem lại lợi ích cho nhiều gia đình lân cận, chứ không hẳn cho cá nhân ông Vươn)
b)   Trồng cây vẹt để giữ đất bồi đồng thời để che bão
c)    Đổ đất, cát, đá... làm nền
Làm các công trình (a) và (b) ông Vươn đã biến một vùng bờ biển hiểm nguy thành một cái « trạch » (đầm nước) có an ninh. Công trình (c) biến một góc « trạch » thành « điền » (đất trồng trọt) và « thổ » (đất xây cất). Sau 17 năm gầy dựng, ông Vươn đã tạo ra một « khu vực điền - thổ - trạch » có diện tích là 40 ha. Điều đáng chú ý là khu vực này, theo lời dân sống ở đó, trước khi giao cho ông Vươn, « nhà nước không dám khai phá ».
Nhà nước thâu hồi đất này dựa trên điều 6 Luật đất đai 2003, theo qui định khoản đ) « chuyển mục đích sử dụng đất ». Dĩ nhiên nhà nước có quyền, theo Hiến pháp và Luật, nhưng thử đặt giả thuyết : nếu « khu vực đất » đó không giao cho ông Vươn, tức vẫn còn là một vùng đầm lầy phủ sóng và luôn chịu gió bão, liệu nhà nước có thâu hồi hay không ?
Nếu câu trả lời là « không » thì không có lý do gì nhà nước hôm nay lại thâu hồi khu vực đất ấy.
Trong khi điều 12 qui định : Nhà nước có chính sách khuyến khích người sử dụng đất đầu tư lao động, vật tư, tiền vốn và áp dụng thành tựu khoa học và công nghệ để   « Khai hoang, phục hoá, lấn biển, đưa diện tích đất trống, đồi núi trọc, đất có mặt nước hoang hoá vào sử dụng » (khoản 1)
Ông Vươn đã tin tưởng vào điều luật đó, đã đem kiến thức khoa học, tiền vốn và công sức để làm các điều mà nhà nước khuyến khích.
Vậy mà nhà nước đã có quyết định thâu hồi (trong khi thời hạn sử dụng chưa mãn).
Người ta không thể vừa « khuyến khích » vừa « thâu hồi ». Ở đây « khuyến khích » có nghĩa là cho làm, « thâu hồi » có nghĩa là không cho làm. Mâu thuẫn ở đây khá rõ rệt. Việc này làm mất niềm tin của dân chúng vào nhà nước và luật của nhà nước ?
3/ Về diện tích sử dụng đất và thời hạn sử dụng :
Thứ trưởng Võ nói rằng « thời hạn giao đất được Luật đất đai quy định là 20 năm. »... « Luật quy định hạn mức được giao đối với một hộ gia đình cá nhân không được vượt quá 2ha »
Về diện tích đất được giao. Khu vực đất của ông Vươn tạo nên là do công sức của ông và gia đình trong việc đắp con đê dài 2km để ngăn lũ và trồng các hàng cây vẹt để giữ đất. Đất của ông Vươn tân tạo được tính từ con đê chận lũ.
Đặt giả thuyết, nếu nhà nước lúc đầu đã qui định ông Vươn chỉ được giao 2 ha đất, thì chắc chắn ông Vươn sẽ không nhận. Vì nhận cũng không làm được gì ! Muốn cải tạo đất thì phải làm con đê chận lũ và trồng vẹt giữ đất bồi. Tức là, hoặc ông Vươn tân tạo được 40 ha đất thổ trạch, hoặc không tạo ra khoảnh đất nào cả. Không ai bỏ công sức làm con đê, trồng rừng vẹt để nhận 2 ha, ngoại trừ việc nhà nước bỏ công để làm (như trường hợp Nguyễn Công Trứ ở huyện Tiền Hải, sẽ nói bên dưới).
Ông Vươn đã được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu vì thế thuộc diện người đang sử dụng đất ổn định (điều 4 phần 3), như vậy đã 17 năm qua.
Qui định ông Vươn chỉ có 2 ha sử dụng là mâu thuẫn với thực tế. Thực tế ở đây là nhà nước hàm ý công nhận quyền sử dụng của ông Vươn trên toàn vùng đất mà ông này khai thác. Trong 17 năm nhà nước không phản đối, thì nhà nước đã chấp nhận thực tế đó.
Nhà nước, qua cơ quan tư pháp, có nhiệm vụ bảo vệ công lý. Nếu hôm nay nhà nước nói ngược lại, thì còn đâu là công lý ?
Về thời hạn được sử dụng đất, theo tôi cũng không thể áp dụng trong trường hợp của ông Vươn. Bởi vì, trong 17 năm sử dụng, thời gian cải tạo khu vực đất không thể không chiết tính ra. Mặt khác, ông Vươn đã đầu tư rất nhiều công và của. Huê lợi thâu từ việc sử dụng đất vẫn chưa trả hết nợ.
Nhà nước không thể vịn vào bất kỳ lý cớ gì để thâu hồi đất này của ông Vươn, như đã nói ở phần 2. Vì nó không công bằng. Ngày xưa, sẽ nói bên dưới, vua chúa có toàn quyền trên số phận của mỗi thần dân, nhưng cũng không có các hành vi bạo ngược trưng thâu đất tư điền một cách tự tiện. Huống chi ngày hôm nay, chế độ xã hội chủ nghĩa, nguyên tắc là đem công bằng cho mọi người trong xã hội. Nhưng trước khi bảo vệ quyền sử dụng đất của mỗi người thì phải tôn trọng nguyên tắc công bằng quyền sử dụng đất của từng cá nhân.
Như vậy còn đâu tính công bằng của XHCN do hiến pháp qui định mà nhà nước phải thực thi ?
4/ Về « tư điền » và sở hữu toàn dân :
Theo Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quí Đôn, một tập tục ngàn năm của Việt Nam được lưu truyền từ đời này sang đời kia, đến trước thời xã hội chủ nghĩa :
« Nếu có người tự đem sức lực của mình khai khẩn những nơi rừng rú bỏ hoang, khi đã thành điền phải khai rõ, liền cho phép coi  như là "bản bức tư điền". Chỉ nhà nước mới có quyền thu thóc tô, còn dân xã không được tranh ruộng tư ấy. Cái lệ ấy thành ra vĩnh viễn. »
Tức đất hoang mà người dân bỏ công khai phá, như trường hợp ông Vươn, sẽ thuộc vào loại « bản bức tư điền », tức sẽ trở thành ruộng riêng của ông Vươn (và con cháu sau này của ông).
Một trường hợp khai khẩn đất hoang ở nước ta, vào đầu thế kỷ 19, cần nhắc ở đây, là việc thành lập huyện Tiền Hải ở Nam Định của cụ Nguyễn Công Trứ. Huyện Tiền Hải trước kia vốn là một bãi đất bồi (bãi Tiền Châu), việc khai khẩn gọi là « doanh điền », do cụ Nguyễn Công Trứ hướng dẫn với sự ủng hộ của triều đình qua việc giúp đỡ tiền bạc và dụng cụ khai phá. Những người dân khai khẩn vùng đất mới bồi này, phần lớn được làm chủ các khoản đất do dọ tạo ra (gọi là tư điền) và có bổn phận đóng thuế cho nhà nước.
Dưới thời thực dân cũng thế, người dân nào khai khẩn đất hoang thì đất đó thuộc quyền sở hữu của người đó. Trong khi đó, chính quyền thực dân đã giúp đào kinh chằn chịt khắp nơi để cho dân xả nước phèn, biến một vùng chất đồng chua thành một kho lúa gạo to lớn của miền Nam hiện nay.
Trong khi dưới thời XHCN, đất đai thuộc sở hữu toàn dân, nhưng lại do nhà nước quản lý.
Trường hợp khai khẩn « khu vực đất » của ông Vươn thì không hề được sự giúp đỡ của nhà nước như trường hợp ở đất Tiền Hải.
Nếu thời trước nhà nước phong kiến hay thục dân không trưng thâu đất, mặc dầu việc khai khẩn là có sự trợ giúp của nhà nước về tài chánh và công cụ, thì hôm nay, nhà nước không hề giúp điều gì cho ông Vươn, thì tại sao lại thâu hồi ? Điều này có đi ngược lại đạo lý giống nòi hay không ?
5/ Thủ tục thâu hồi đất, mâu thuẫn giữa XHCN và kinh tế thị trường :
Như đã nói ở điều 2, việc khai khẩn của ông Vươn là một « công trình », gồm nhiều phần : con đê dài 2km, rừng vẹt, đầm nuôi cá, đất trồng trọt và đất xây dựng nhà cửa. Ngoài chi phí vật chất như tiền của, sức lao động, công trình này bao gồm hai thành quả : vật chất và trí tuệ.
Ông Vươn là một kỹ sư. Nếu công trình này không có đóng góp của kiến thức khoa học và việc đầu tư suy nghĩ lâu dài thì khu đất này sẽ không bao giờ được thành tựu như thế. Nếu giao đất cho tay ngang, người này chưa chắc sẽ hình hung ra việc đóng cừ xây đê hay trồng cây vẹt để giữ đất, đó là chưa nói đến việc phải định hướng con đê như thế nào, trồng cây vẹt ra làm sao để khỏi bị sóng đập tan và giữ được đất. Tức công trình đó còn là một công trình của trí tuệ.
Theo hiến pháp và luật định, đất đai sở hữu của toàn dân, do nhà nước quản lý. Nhưng vì có nền « kinh tế thị trường » và gia nhập WTO, do đó nhà nước VN phải tôn trọng các luật lệ do WTO qui định, (theo điều 3 khoản 2 bộ Luật đất đai 2003) trong đó có điều luật phải tôn trọng quyền sở hữu tài sản cũng như sở hữu trí tuệ của tư nhân.
Nhà nước có thể thâu hồi đất mà bỏ qua quyền sở hữu trí tuệ cùng sở hữu tài sản của ông Vươn ? Không giải quyết ổn thỏa là tạo ra sự xung đột giữa hai bộ luật (luật quốc tế và luật quốc gia) mà theo lẽ VN phải đặt luật quốc tế lên trên.
Mâu thuẫn ở đây là mâu thuẫn của nền « kinh tế thị trường » với định hướng « xã hội chủ nghĩa ».
Nhưng sự mâu thuẫn này đã tạo ra tại VN một tầng lớp giàu mới do kinh doanh về đất đai. Con số này chiếm đến 40%. Như thế, việc này gián tiếp tạo cho VN một nền kinh tế què quặc, do việc tư bản nội địa không đầu tư vào kinh doanh hay sản xuất mà đầu tư vào một ngành không tạo ra công ăn việc làm hay của cải vật chất cho xã hội. Nó chỉ mở một môi trường tốt đẹp tại VN cho hàng hóa dỏm của TQ vào thống lĩnh thị trường.
6/ Kết luận : Đôi điều với Thứ Trưởng Võ như thế. Theo tôi, về pháp luật, nếu có sự mâu thuẫn (như đã dẫn ra) thì ánh sáng công lý sẽ không bao giờ rọi dến các nơi tối tăm, ở các vùng sâu, xa, như ở xã Vinh Quang, huyện Tiên lãng, tỉnh Hải Phòng. Việc lên tiếng của ông Võ là một điều tốt, vì nó rất cần thiết cho việc xét xử ông Vươn.



Hy vọng nhiều người khác cũng sẽ làm như thế. Đó cũng là việc công ích cho xã hội.




Thứ Tư, 11 tháng 1, 2012

ĐẢNG TA THẬT SÁNG SUỐT : NHỜ ƠN ĐẢNG ĐÃ CHỈ CHO TA BIẾT BỌN THAM NHŨNG Ở ĐÂU.

Báo cáo kết quả điều tra tham nhũng ở Việt Nam:

10 cơ quan tham nhũng phổ biến nhất

Thứ Tư, 30/11/2005 10:25

Lần đầu tiên, một danh sách 10 cơ quan tham nhũng phổ biến nhất đã được công bố, trong đó ba cơ quan dẫn đầu là: Địa chính nhà đất; Hải quan/quản lý xuất nhập khẩu; và cảnh sát giao thông. Danh sách do Ban Nội chính TW Đảng công bố ngày hôm nay, 30-11.

Người quen cũng không chừa!
Trong danh sách này, có thể kể thêm: Cơ quan tài chính, thuế; Cơ quan quản lý/các đơn vị trong ngành xây dựng; Cơ quan cấp phép xây dựng; y tế; cơ quan kế hoạch và đầu tư; cơ quan quản lý/các đơn vị trong ngành giao thông; công an kinh tế.
Nhóm nghiên cứu đã “bầu chọn” danh sách này từ đánh giá của các nhóm xã hội về mức độ tham nhũng ở 21 cơ quan công quyền và dịch vụ công.
Một so sánh thú vị về tỷ lệ cán bộ, công chức đánh giá tình trạng tham nhũng ở mức “rất phổ biến hoặc tương đối phổ biến” đối với cơ quan báo đài và Địa chính-nhà đất ở Hà Nội, là 8,6% cho báo đài (có tỷ lệ đánh giá thấp nhất) và 66,5% cho Địa chính-nhà đất (có tỷ lệ đánh giá cao nhất).
Những hành vi tham nhũng nào thường xảy ra trong các cơ quan ở danh sách “top ten” nêu trên?
Từ những quy định trong Pháp lệnh Chống tham nhũng năm 1998, nhóm nghiên cứu đã cụ thể hoá thành 17 hành vi tham nhũng. Ở 7 tỉnh mà nhóm nghiên cứu tiến hành điều tra đã có một tỷ lệ đáng kể cán bộ công chức thừa nhận đã gặp cả 17 hành vi trong một năm qua.
Còn ở 3 Bộ, các cán bộ công chức tuy chưa chứng kiến xảy ra tất cả 17 hành vi tham nhũng nhưng cũng đã gặp trên 10 loại hành vi tham nhũng trong năm.
Đặc biệt phổ biến là: “Sử dụng phương tiện của cơ quan phục vụ nhu cầu riêng của cá nhân hoặc gia đình”.

Ở cả 3 Bộ đều có trên 40% số công chức được hỏi cho biết họ đã chứng kiến hành vi “Người có chức vụ, quyền hạn cố tình gây khó khăn khi giải quyết công việc để buộc người cần giải quyết phải chi tiền hoặc quà biếu”.
Trong các hành vi tham nhũng, thì hành vi: “Gọi điện, viết thư tay can thiệp nhằm mưu lợi cho người thân quen khá phổ biến. Tỷ lệ công chức chứng kiến hành vi này, tính chung trong 7 tỉnh là 24,6% (tức khoảng 1/4 số người được hỏi và gần 30% số người trả lời).
Gọi điện, viết thư tay, nếu dẫn đến hành vi tham nhũng bị phát hiện thì tác giả của những cú điện thoại, những bức thư này là “vô can” vì về mặt hình thức, gọi điện, viết thư tay không phải là văn bản pháp lý (về mặt nội dung, họ đủ trình độ để viết sao cho đạt được mục đích nhưng tránh né được pháp luật).
Các hành vi tham nhũng được che giấu bởi các hóa đơn, chứng từ, hợp đồng “thật 100%”, nhưng đằng sau là các thỏa thuận ngầm mà cơ quan bảo vệ pháp luật rất khó kiểm tra, phát hiện.
Chẳng hạn, hình thức “thỏa thuận tăng giá trị hợp đồng để nhận tiền trích % từ bên B” được 35,7% công chức Bộ GT &VT, 30,07% công chức tỉnh Sơn La chứng kiến. Nếu tính chung ở 7 tỉnh, 3 Bộ thì tỷ lệ này là 20,9%!
Vừa tinh vi, tham nhũng lại vừa trắng trợn thể hiện ở chỗ: Người nhận hối lộ không cần che giấu. Họ nhận cả của người quen, để giải quyết công việc nào đó, tức là không sợ tố cáo, không cần che giấu danh tính, địa chỉ của mình.
Theo thống kê, đa số (khoảng 60-70%) người nhận tham nhũng nhận tiền, quà của người quen ở các mức độ khác nhau, trong đó quen lâu năm cũng lên tới10%! Điều đáng lo ngại là nhóm nghiên cứu nhận định khoảng 1/3 cán bộ công chức có thể nhận hối lộ nếu có người đưa.
Chống tham nhũng không hiệu quả vì chưa quyết tâm
Mặc dù cho rằng tham nhũng về cơ bản là hành vi riêng lẻ của từng cá nhân, nhưng nhóm nghiên cứu cũng đi đến nhận định một số trường hợp tham nhũng mang tính tập thể, liên kết thành mạng lưới. Rất khó xác định hành vi tham nhũng là của tập thể hay chỉ là một cá nhân.
Tuy nhiên, ở những nơi nhũng nhiễu, lấy tiền của dân phổ biến hơn thì tỷ lệ cho hành vi cá nhân thường cao nhất, còn ở những vụ lớn, dễ lộ như đất đai (Vụ Đồ Sơn, vụ đảo Phú Quốc…) thì tham nhũng lại thường mang tính tập thể.
Ngay công chức cũng có tới 38% hoàn toàn đồng ý rằng “Do bè cánh, nếu ai không tham nhũng sẽ bị loại ra”. Minh chứng cho tính liên kết, theo kết quả điều tra có tới 21,8% công chức cho rằng trong năm qua đã chứng kiến hiện tượng cấp trên bao che, bảo lãnh cho người vi phạm; Tương tự, 24,6% chứng kiến các quan chức gọi điện, viết thư tay can thiệp vào các vụ việc nhằm giảm nhẹ hoặc gỡ tội cho kẻ vi phạm.
Đối với chủ thể của hành vi tham nhũng, nhóm nghiên cứu cho rằng những người nhận hối lộ đa số là nam giới; đa số là trung niên; những người tham nhũng không nhất thiết phải có chức vụ; tham nhũng xảy ra ở nhiều cấp; và tuyệt đại bộ phận những người tham nhũng là do lòng tham chứ không phải do thu nhập thấp hoặc nghèo đói.
Về hậu quả của tham nhũng, nhóm nghiên cứu đã có nhận định: “Mục đích cuối cùng của những người tham nhũng là làm giàu và giàu hơn nữa, nên tham nhũng không có giới hạn cuối cùng. Nó tăng lên cùng cơ hội.
Chính vì vậy, tài sản của Nhà nước, của nhân dân bị chiếm đoạt tăng dần theo “cấp số nhân”, từ tiền tỷ ở cấp xã đến hàng trăm tỷ trong phạm vi cả nước.
Ngoài thất thoát ở các địa phương, tham nhũng ở các ngành mới là điều đáng kể. Nếu như khoản tiền mà doanh nghiệp bị mất do tệ tham nhũng được coi là chi phí “đen” trong tổng số chi phí của doanh nghiệp, thì theo
Nhóm nghiên cứu hầu hết cán bộ doanh nghiệp đều biết doanh nghiệp của mình hàng năm vẫn có khoản chi phí không chính thức, bất hợp pháp, chỉ có điều là họ không thể biết được chính xác là bao nhiêu.
Đáng chú ý là 8% cán bộ doanh nghiệp đánh giá những khoản chi không chính thức chiếm từ 1% đến trên 10% tổng chi phí, riêng TP.HCM lên đến 13%. Tham nhũng làm cho doanh nghiệp mất chữ tín, chữ tài (tài chính), chữ thời (thời cơ và giới hạn), nghĩa là làm giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Dự án “Nghiên cứu đấu tranh chống tham nhũng”. Cơ quan thực hiện: Ban Nội chính Trung ương. Cơ quan tài trợ: SIDA - Thụy điển.
Nhóm nghiên cứu (chuyên gia trong nước và tư vấn Thụy Điển) đã thực hiện điều tra về tình hình tham nhũng và phòng chống tham nhũng ở 7 tỉnh/thành phố: Sơn La, Hà Nội, Hải Dương, Nghệ An, Thừa Thiên-Huế, TPHCM, Đồng Tháp và 3 Bộ: Công nghiệp; Xây Dựng, GT-VT.
Đây là cuộc điều tra về nhận thức, hiểu biết, thái độ, đánh giá của người dân và cán bộ về vấn đề tham nhũng.
Khi đề cập đến nguyên nhân của tham nhũng ở Việt Nam hiện nay, nhóm nghiên cứu đã trích dẫn phát biểu của Nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu vào trong báo cáo của mình như sau: “Tham nhũng ở nước ta là do cả cơ chế lẫn con người”.
Một câu hỏi cần đặt ra là: Vì sao ở nước ta có nhiều Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng, Luật, Pháp lệnh, Nghị định…của Nhà nước liên quan đến phòng, chống tham nhũng; Chúng ta từng có Ban chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, bên cạnh đó, bộ máy Đảng và Nhà nước có đầy đủ các cơ quan kiểm tra, thanh tra, điều tra, kiểm sát, xét xử có chức năng phòng, chống tham nhũng; Đảng và Nhà nước cũng đã phát hiện, xử lý hàng nghìn vụ tham nhũng, hàng vạn cán bộ, nhưng tình trạng tham nhũng vẫn nặng nề và kết quả phòng, chống tham nhũng vẫn còn hạn chế?
Đại đa số các nhóm xã hội đều thống nhất đánh giá người có trách nhiệm chưa quyết tâm chống tham nhũng sẽ gây hạn chế lớn đến thành công của sự nghiệp này.
Trên 80% cán bộ công chức và cán bộ doanh nghiệp (tỷ lệ cao nhất) thống nhất với nhận định như vậy. Đối với người dân, tỷ lệ này xếp thứ hai, nhưng cũng đạt tới 78,1% và gần sát với tỷ lệ cao nhất (78,3% chọn “xử lý chưa nghiêm minh người tham nhũng làm nguyên nhân số 1).
Song, việc xử lý chưa nghiêm minh người tham nhũng cũng chỉ là một biểu hiện của quyết tâm chống tham nhũng chưa cao” mà thôi.
Theo Tiền Phong

 

Thứ Ba, 10 tháng 1, 2012


Osin HuyDuc

Quả Bom Đoàn Văn Vươn

10-01-2012
Huy Đức
Khi lực lượng cưỡng chế huyện Tiên Lãng đến khu đầm, anh Vươn cho nổ trái mìn tự tạo cài dưới một bình gas. Bình gas không nổ. Nhưng, trái mìn tự tạo vẫn gây tiếng vang như một quả bom, “quả bom Đoàn Văn Vươn”. Vụ nổ không chỉ gây rúng động nhân tâm mà còn giúp nhìn thấy căn nguyên các xung đột về đất đai. Quyền sở hữu nói là của “toàn dân”, trên thực tế, rất dễ rơi vào tay đám “cường hào mới”.

Sự Tùy Tiện Của Nhà Nước Huyện
Quyết định giao bổ sung 19,5 ha đất nuôi trồng thủy sản cho ông Đoàn Văn Vươn, ký ngày 9-4-1997, ghi thời hạn sử dụng là 14 năm tính từ ngày 14-10-1993. Theo báo Thanh Niên, ở thời điểm ấy, chính quyền huyện Tiên Lãng đã quy định thời hạn giao đất cho nhiều cá nhân, hộ gia đình rất tùy tiện: có người được giao 4 năm; có người 10 năm… Tuy thời điểm này chưa có các nghị định hướng dẫn chi tiết việc thi hành, nhưng Luật Đất đai năm 1993 đã nói rõ thời hạn giao đất nuôi trồng thủy sản cho hộ gia đình và cá nhân là 20 năm.
Theo Nghị định ngày 28-08-1999, nếu chính quyền Tiên Lãng không tùy tiện thì gia đình ông Vươn có quyền sử dụng phần đất này cho đến ngày 9-4-2017, tính từ ngày ông được huyện ký giao; tối thiểu cũng phải đến ngày 15-10-2013, nếu huyện “ăn gian” tính theo ngày Luật Đất đai có hiệu lực. Vấn đề là, cho dù đất được giao của gia đình ông Vươn hết hạn thì có phải là đương nhiên bị thu hồi để giao cho người khác như cách mà Tiên Lãng đã làm. Luật Đất đai 2003 quy định hạn điền cho loại đất nuôi trồng thủy sản là 3 hecta và với phần đất vượt hạn mức của ông Vươn có thể áp dụng Điều 35 để cho ông tiếp tục thuê như quy định đối với đất đai nông nghiệp.

Sở Hữu Toàn Dân
Tuy dịch từ Hiến pháp 1936 của Liên xô, Hiến pháp 1959 của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vẫn chưa “quốc hữu hóa đất đai”. Cho dù, từ thập niên 1960s ở miền Bắc và từ cuối thập niên 1970s ở miền Nam, ruộng đất của nông dân đã bị buộc phải đưa vào tập đoàn, hợp tác xã, đất đai chỉ chính thức bị coi là thuộc “sở hữu toàn dân” kể từ Hiến pháp 1980.
Theo Bộ trưởng Tư pháp Nguyễn Đình Lộc: “Trong bản dự thảo Hiến pháp 1980 do Chủ tịch Trường Chinh trình Bộ Chính trị vẫn đề nghị duy trì đa hình thức sở hữu, trên cơ sở khuyến khích 5 thành phần kinh tế. Theo tôi biết thì Bộ Nông nghiệp và Ban Nông nghiệp Trung ương cũng không đồng ý quốc hữu hóa”. Nhưng, ngày 10-9-1980, trong một bài nói chuyện trước Ban chấp hành Trung ương có tựa đề, “Hiến pháp mới, Hiến pháp của chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa”, Tổng Bí thư Lê Duẩn nói: “Nhân đây, tôi nhấn mạnh một điểm rất quan trọng trong Dự thảo Hiến pháp mới là chuyển toàn bộ đất đai thành sở hữu toàn dân. Đề ra như vậy hoàn toàn đúng với quy luật tiến lên chủ nghĩa xã hội”. Ông Nguyễn Đình Lộc, thành viên Ban thư ký của Ủy ban Soạn thảo Hiến pháp 1980, thừa nhận: “Khi đó, uy tín Lê Duẩn bao trùm. Mặt khác, nhiều người cũng không hình dung được bản chất của sở hữu toàn dân là quốc hữu hóa”.
Tuy chấp nhận quốc hữu hóa đất đai nhưng theo ông Tôn Gia Huyên, lúc bấy giờ là Vụ phó vụ Quản lý Đất đai, ông Trường Chinh chủ trương giữ nguyên hiện trạng chứ không tịch thu ruộng đất như điều mà Lenin đã làm với kulax ở Nga sau năm 1917. Ông Trường Chinh yêu cầu ghi vào Điều 20 của Hiến pháp 1980: “Những tập thể và cá nhân đang sử dụng đất đai được tiếp tục sử dụng và hưởng kết quả lao động của mình theo quy định của pháp luật”.
Khi Hiến pháp 1992 bắt đầu được soạn thảo, theo ông Phan Văn Khải: “Thủ tướng Võ Văn Kiệt và tôi muốn sửa Hiến pháp theo hướng, trao quyền sở hữu ruộng đất cho nông dân nhưng không thành công, chúng tôi đành phải tìm ra khái niệm, trao 5 quyền cho người sử dụng đất”. Trong Đại hội Đảng lần thứ VII, vòng I, nhiều nhà lãnh đạo địa phương đã lên tiếng ủng hộ “đa sở hữu hóa đất đai”. Nhưng, ở cấp cao, theo Trưởng ban Biên tập Hiến pháp 1992, ông Nguyễn Đình Lộc: “Không ai có đủ dũng cảm đứng lên đòi bỏ sở hữu toàn dân, vì đó là một vấn đề nhạy cảm, đụng đến chủ nghĩa xã hội. Khi chuẩn bị bài phát biểu về Hiến pháp cho Tổng Bí thư Đỗ Mười, tôi có trình bày, nhưng ông Đỗ Mười nghiêng về sở hữu toàn dân. Ông tin vào điều ông Lê Duẩn nói, sở hữu toàn dân là quan hệ sản xuất tiên tiến. Ông Đỗ Mười tin, trước sau gì ta cũng tới đó nên cứ để vậy”.
Các Nhà Làm Luật
Luật Đất đai 1993 đã trao cho người dân 5 quyền: sử dụng, chuyển nhượng, thừa kế, thế chấp và cho thuê quyền sử dụng đất. Nhưng, so với Hiến pháp 1992, Luật Đất đai 1993 có một điểm lùi. Hiến pháp ghi: “Nhà nước giao đất cho các tổ chức và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài”. Trong khi Luật chỉ giao đất cho cá nhân và chỉ giao có thời hạn. Ông Tôn Gia Huyên giải thích: “Thời hạn giao đất thực chất chỉ là ý chí chính trị, là sợi chỉ cuối cùng để phân biệt giữa sở hữu tư nhân và sở hữu Nhà nước”. Là ranh giới để trấn an những người vẫn còn tin, Việt Nam tiếp tục đi lên chủ nghĩa xã hội.
Nhưng, cái ranh giới tưởng có giá trị trấn an ấy đã lại rất mù mờ, mù mờ ngay trong đầu chính các nhà lập pháp. Tháng 7-1993, sau bốn buổi thảo luận trên Hội trường về Luật Đất đai, các đại biểu miền Nam đề nghị “giao đất lâu dài” như Hiến pháp 1992, trong khi các đại biểu miền Bắc và miền Trung lại tán thành giao đất có thời hạn; thậm chí có đại biểu còn đòi rút ngắn thời hạn giao đất xuống còn từ 10-15 năm. Trong tính toán của nhiều người, giao đất có thời hạn nghĩa là sau đó Nhà nước có thể lấy lại để giao cho người khác. Đại biểu Đặng Quốc Tiến, Bắc Thái, nói: “Đất ít, người đông, giao có thời hạn thì sẽ bảo đảm cho công tác điều chỉnh đất đai khi có biến động nhân khẩu”. Ông Nguyễn Bá Thanh, khi ấy là Chủ tịch Thành phố Đà Nẵng, đã rất hăng: “Đi nghĩa vụ quân sự 2 năm thì kêu dài, giao đất 20 năm thì bảo ngắn”.
Khi Luật Đất đại 1993 được đưa ra sửa đổi, Chính phủ đề nghị nâng thời hạn giao đất nông nghiệp từ 20 năm lên 50. Trong hai ngày 14 và 16-11-1998, nhiều đại biểu cũng đã phản ứng, thậm chí còn có phần gay gắt. Chủ nhiệm Hợp tác xã nông nghiệp Đại Thắng, Đại Lộc (Quảng Nam) ông Trần Văn Mai nói: “Số nông dân chưa có đất đang trông chờ cho hết thời điểm 20 năm, bây giờ đã được 5 năm, còn 15 năm nữa họ sẽ được chia đất. Nếu bây giờ ta tăng thời hạn lên 50 năm sẽ là một sự hụt hẫng lớn của nhân dân với Đảng”. Theo cách hiểu của ông Trần Văn Mai: “Hoặc hết hạn 20 năm, hoặc người sử dụng đất chết, chúng ta sẽ thu hồi cấp lại cho những nhân khẩu phát sinh”. Nhưng, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Trị, ông Nguyễn Đức Hoan đã phát biểu: “Đừng lo cho 20 năm sau không có đất để phân phối lại. Bây giờ ở ta 80% dân số làm nông nghiệp. Không lẽ 20 năm sau cũng 80%?”. Chủ tịch Hội nông dân tỉnh Đồng Tháp ông Trương Minh Thái cho rằng: “Đừng nghĩ chúng ta chỉ có thể điều phối ruộng đất ở nông thôn bằng cách thu hồi rồi chia lại. Chúng ta đã giao cho người dân năm quyền, họ có thể để thừa kế, hoặc sang nhượng cho người chưa có đất”.
Đất Dân Quyền Quan
Năm quyền của người sử dụng đất sau đó được “pháp điển hóa” trong Bộ Luật Dân sự 1995 như các quyền dân sự. Quyền sở hữu, tuy “trá hình” này, vẫn là cơ sở pháp lý để hình thành thị trường địa ốc. Và trong giai đoạn đầu, nhờ tư vấn của World Bank, thị trường đã được điều hành bằng công cụ thuế. Cho dù do thuế suất quá cao, Luật Thuế Chuyển quyền sử dụng đất, ngay lúc ấy, đã khiến nhà đất đóng băng nhưng sử dụng công cụ thuế chính là thừa nhận giá trị các giao dịch dân sự liên quan tới đất đai. Tuy nhiên, chính quyền các cấp có vẻ như không mấy mặn mà với vai trò đứng ngoài. Các giao dịch, đặc biệt là mua bán đất đai đã bị hành chánh hóa: Nhà nước thu hồi đất của người bán rồi giao đất cho người mua. Thay vì thu thuế chuyển quyền, người mua phải đóng tiền sử dụng đất, đặt người có đất trong tình thế phải trả tiền hai lần.
Đỉnh cao của sai lầm về chính sách là Pháp lệnh 14-10-1994 và Nghị định 18, hướng dẫn thi hành Pháp lệnh đó. Theo Nghị định 18, các tổ chức không còn được giao đất có đủ các quyền như Hiến pháp 1992. Những doanh nhân tiên phong như Tăng Minh Phụng, Liên Khui Thìn, Trần Quang Vinh… đã vay hàng ngàn tỷ đồng để mua đất, sau Nghị định 18 phải chuyển những lô đất ấy thành đất thuê và chỉ được thế chấp ngân hàng theo giá trị số tiền thuê đã trả cho nhà nước. Khi bị bắt, cũng nhân danh “đất đai thuộc sở hữu toàn dân”, Hội đồng thẩm định do Nhà nước lập ra đã tính, có những mét vuông đất, giá không bằng que kem. Đất biệt thự đường Trần Phú, Vũng Tàu, mà chỉ được Tòa công nhận giá ba-trăm-đồng/m2. Khoản chênh lệch giữa giá thực mua và giá của Tòa được coi là thất thoát để buộc tội các doanh nhân này lừa đảo.
Trong tù, có lúc Minh Phụng nói với Luật sư Nguyễn Minh Tâm: “Xin luật sư hãy nhìn vào mắt em để xem em có phải là người lừa đảo?”. Ngày 12-7-1999, khi nghe Luật sư Tâm nhắc lại câu này Minh Phụng đã bật khóc trước Tòa. Cũng đầu tư vào đất đai cùng một phương thức tuy khác quy mô, nhưng, thái độ của Nhà nước với giá đất đã biến ông Lê Văn Kiểm, Huy Hoàng, thành anh hùng và tử hình ông Tăng Minh Phụng.
Danh Chính Ngôn Thuận
Đầu tháng 12-2011, Chính quyền Đà Nẵng nơi ông Nguyễn Bá Thanh là Bí thư kiêm Chủ tịch Hội đồng Nhân dân đã đề nghị cho tư nhân sở hữu đất đai. Sau 20 năm lãnh đạo một địa phương, có lẽ ông Nguyễn Bá Thanh nhìn thấy, quyền sở hữu trá hình đã đặt đất đai của người dân vào tay chính quyền cấp huyện với quá nhiều rủi ro. Điều 38, Luật Đất đai 2003, nói: Nhà nước chỉ thu hồi đất khi “cá nhân sử dụng đất chết mà không có người thừa kế” (khoản 7). Nhưng, tại khoản 10 cũng của Điều 38, Luật lại mở ra khả năng: Nhà nước thu hồi những phần đất “không được gia hạn khi hết thời hạn”. Chính quyền cấp huyện được Luật giao quyền giao đất và thu hồi đất của cá nhân và hộ gia đình. Nếu chính quyền Tiên Lãng áp dụng điều 67, tiếp tục giao đất cho ông Vươn, thì đã không có gì xảy ra, nhưng họ đã đẩy ông vào khoản 10, Điều 38: Thu hồi đất vì “không được gia hạn” khi thời hạn giao đất của ông đã hết.
Sau “trái bom Đoàn Văn Vươn”, chúng ta biết, khu đất đầm mà anh có không phải là đất được nhà nước giao mà là đất do gia đình anh phải lấn biển, khai hoang. Suốt 5 năm “trầm mình dưới nước từ mờ sáng tới tận tối khuya”, biết bao lần bị bão biển cuốn phăng để đắp được một bờ kè dài hai cây số, tạo nên bãi bồi màu mỡ và một khu đầm nuôi tôm cá rộng gần 40 hecta. Cũng nơi đây, anh Vươn mất một đứa con gái 8 tuổi vì khi cha mẹ mải làm con gái của anh đã rơi xuống cống. Đừng nói chuyện thu hồi, lẽ ra chính quyền Tiên Lãng phải xấu hổ khi ký quyết định giao cho anh Vươn phần đất của chính anh, phần đất mà anh Vươn đã phải gắn bó suốt 20 năm, đã đổ cả mồ hôi và máu.
Nếu như, quyền sở hữu về đất đai của người dân được công nhận, thì cách khai hoang, lấn biển của gia đình anh Vươn phải được coi như một hình thức thụ đắc ruộng đất mà từ xa xưa cha ông ta đã áp dụng cho người dân để ngày nay Việt Nam liền một dải từ Lạng Sơn đến Mũi Cà Mau. Nếu như quyền sở hữu về đất đai của người dân được công nhận, Chính quyền không thể hành chính hóa các giao dịch dân sự liên quan đến đất đai. Các đại gia không thể thậm thụt với đám cường hào thu hồi những mảnh đất của dân mà họ mua không được.
Nhưng đó là câu chuyện có thể được thảo luận trong quá trình sửa đổi Hiến pháp. Người dân đang dõi theo thái độ của Chính phủ, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội trước trường hợp Đoàn Văn Vươn.
Theo cách giải thích của Giám đốc Công an Hải Phòng Đỗ Hữu Ca thì đất ông Vươn nằm trong vùng quy hoạch xây dựng một sân bay quốc tế. Nếu thu hồi bây giờ hoặc chuyển thành thuê thì mai này nhà nước không phải bồi thường cho ông Vươn. Đỗ Hữu Ca nói: “Với công trình đặc biệt quan trọng như thế thì đền bù sẽ rất lớn. Ông Vươn cố giữ lại như thế để lấy đền bù khi dự án được triển khai”. Có thể Đỗ Hữu Ca là một công chức mẫn cán chứ không phải là “cụ Bá”. Nhưng, lo quyền lợi của nhà nước sao không tính quyền lợi của dân, không tính máu và mồ hôi 20 năm của gia đình anh Vươn. Chắc Đỗ Hữu Ca không nghĩ, anh em, bà con ông và chỉ vài năm nữa chính ông cũng là dân.
Đỗ Hữu Ca có lẽ không nhớ chuyện anh rể của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, sáng 17-4-2009, bị “áp giải ra khỏi hiện trường” khi chính quyền huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương tiến hành cưỡng chế thu hồi hơn 185 hecta cao su của ông để làm khu công nghiệp. Ông đã không đồng ý cho giải tỏa, mặc dù, 185 hecta cao su này ông có được nhàn hạ hơn so với công sức khai hoang, lấn sóng của anh Vươn và mức đền bù thì cao hơn gấp 20 lần giá vốn. Nhắc lại câu chuyện này để thấy, bất luận là ai, khi phải đối diện với tài sản của mình thì mới thấy của đau, con xót.
Dù sao thì hành động chống người thi hành công vụ của anh Đoàn Văn Vươn cũng phải được đưa ra xét xử. Nhưng, thông điệp mà các địa phương chờ đợi không phải là những năm tù cho anh mà là thái độ của nhà nước với chính quyền Tiên Lãng. Từ năm 2013, ruộng đất của nông dân bắt đầu lần lượt hết hạn giao đất. Nếu như quyết định của Chủ tịch Tiên Lãng Lê Văn Hiền không bị coi là sai, hơn 500 chủ tịch huyện trên cả nước có thể noi gương thu hồi đất đáo hạn của nông dân để… giao, thì không biết điều gì sẽ xảy ra. Đừng chậm trễ và đừng để “quả bom Đoàn Văn Vươn” lại nổ.
Nguồn: FB Osin HuyDuc

Thứ Hai, 9 tháng 1, 2012

CHUYỆN VUI TỪ BLOG NGUYỄN QUANG VINH (CU VINH) : BÀI VIẾT 4 IM.


                                           TẶNG BÁC HỢP BỨC ẢNH NÀY:

Đây là cựu chiến binh Nguyễn Xuân Liên, bán nhà cửa Hà Nội, cầm mấy tỷ vào Quảng Bình (Nơi mà hồi chiến tranh ông Liên là y tá quân đội ở mảnh đất Quảng Bình cát trắng và khói lửa đạn bom), rồi thuê đất, phục dựng một mảnh làng Quảng Bình trong chiến tranh chống Mỹ, thành điểm du lịch vô cùng quý giá, miễn phí. Đã từng có phái đoàn các tùy viên quân sự nhiều nước tới tham quan và khâm phục người dân Việt Nam đã sống, học tập, chiến đấu và hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Làng du lịch này có tên gọi Vực Quành, cách thành phố Đồng Hới 7 km về phía tây. Hành động đi bác Hợp, bác trích một ngày lương cho bà con nghèo cũng tốt lắm, không cần dạy, không cần cho chữ.

 

PHẢN HỒI

Thứ Năm, 29 tháng 12, 2011

KHÁM PHÁ SƠN ĐÒONG

Hành trình tìm kiếm hang động lớn nhất thế giới-những bức ảnh chưa biết

Những bức ảnh của nhiếp ảnh gia luôn chụp hình ở nơi khắc nghiệt nhất thế giới Carsten Peter, của National Geographic lừng danh cho thấy sự tỉ mỉ trong từng góc hình. Đường nét khuôn hình chặt chẽ vô cùng. Những bức ảnh tôn vinh hành trình tìm kiếm hang động lớn nhất thế giới Sơn Đòong, những bức ảnh đẹp chưa hề biết đến. Mời bà con cùng chiêm ngưỡng.
Một chuyên gia trước một bộ xương hóa thạch không biết là của loài nào


Vượt Rào Thương

Một góc hình của nhiếp ảnh gia nổi tiếng

Lán trại, bố cục chặt

Đường rừng khắc nghiệt

Giữa ánh rừng già

Vượt tai mèo lởm chởm

Lán trại đường xa

Qua đêm giữa lõi rừng

Giữa núi rừng thâm u

Mưa rừng biến đất cát thành các trầm tích thú vị

Góc hình lạ sau mưa

Một góc khác về Sơn Đòong

Cấu trúc thời gian của thạch nhũ

Trong cánh rừng ở Sơn Đòong

Rêu tảo trên đá vôi

Góc hình về địa y

Nhà sinh học tìm hiểu về khu rừng hang động duy nhất trên thế giới

Ngỡ ngàng trước khu rừng có một không hai

Ngọc đá trong Sơn DDooong, hang động lớn nhất thế giới, không do bàn tay con người đẽo gọt mà do dòng nước chảy qua, bào mòn, xô các viên đá ma sát vào nhau qua hàng triệu năm để có những viên ngọc như thế này

Đây là những cấu trúc khác của ngọc đá nằm từng ổ mà các chuyên gia hang động nói là quý hiếm

Các viên ngọc đá rời nhau và cầm lên được

Vẻ đẹp hiếm có

Tìm hiểu ảnh vệ tinh về núi Kẻ Bàng

Buồng hang nhìn ra cánh rừng

Nước lũ tạo ra điều này

Trước một hồ nước

Hình ảnh quá đẹp về góc nhìn hang động

Chỉ một cọn lửa nhỏ sưởi ấm trong hang động cũng đủ khuôn hình chặt

Nhìn xuống rừng trên cao

So sánh các thông số lớn nhất thế giới

Bữa tối trong hang động

Nước chảy đã hàng triệu năm

Giữa thế giới hang động tuyệt đẹp

Rừng trong hang động nhìn từ trên cao

Thiêu thân trong đêm ở hang động

Đây được đặt là vườn địa đàng E Đam

Trầm tích thời gian

Khu rừng cách mặt đất 400m

Nắng chan xuống một hố vực

Như một đài hoa khổng lồ

Những viên ngọc trầm tích quý hiếm

Nắng xuyên qua một lỗ thông hơi, con người nhỏ bé trước thạch nhũ khổng lồ

Các nhà khoa học tìm thấy những loài sống trong hang động

Một loài cá

Một loài tôm

Một loài rận

Và một loài cuốn chiếu, chúng được cho là loài mới

Và đây là sinh vật rất lạ

Bướm rừng chen chúc

Nghĩ ngơi trong hành trình

Sau chuyến đi dài tới hang động lớn nhất thế giới

Nguồn ảnh: National Geographic/Gettyimages