Chủ Nhật, 6 tháng 5, 2012


06/05/2012

Từ Văn Giang nghĩ về thân phận nông dân

Hoàng Kim (Đồng Tháp)

Nông dân chúng tôi có gì?

Chúng tôi có thửa vườn, mảnh ruộng.
Nhưng,
đất đai thuộc sở hữu toàn dân:
thửa vuờn, mảnh ruộng là của Nhà nước?!
Nhà nước muốn lấy đất của nông dân chỉ cần ra quyết định thu hồi,
và áp cho một mức đền bù rẻ mạt.
Nhận tiền đền bù thì yên thân, không nhận bị cưỡng chế.
Dù đất bị lấy để phân lô bán nền,
với tên gọi mỹ miều là những dự án phát triển đô thị.
Hãy nhìn huyện Văn Giang (*)
Nơi cách thủ đô Hà Nội 9 km đường chim bay.
Nơi năm 2020 sẽ trở thành đô thị loại 4, rồi trở thành thị xã.
Nơi đang nhộn nhịp đầu tư bất động sản.
Nơi giá đất tăng lên từng ngày.
Giá căn hộ hiện thời rẻ nhất là 20 triệu đồng một mét vuông.
Biệt thự và nhà phố giá 45 triệu đồng một mét vuông.
Vậy mà:
Chính quyền hào phóng đền bù cho nông dân 135.000 đồng một mét vuông,
Lại nổ ran trời: giá cao nhất tỉnh,
Nông dân lại không chịu mức đền bù này.
Chính quyền nghĩ:
“Quả là bọn dân đen cứng đầu cứng cổ, được voi đòi tiên,
bọn này không cưỡng chế không được”
Vậy là 1.000 chiến sĩ công an, dân quân với dùi cui súng đạn,
tiến hành thắng lợi việc cưỡng chế lấy đất của 200 nông dân chống đối.
Đất vùng sâu, vùng xa giá rẻ mạt nông dân an tâm sử dụng lâu dài, chẳng ai thèm để ý.
Đất sắp thành đô thị giá tăng cao Nhà nước lấy lại.
Đất tăng giá chủ dự án và những người ký dự án thu lợi, nông dân mất đất.
Đô thị càng phát triển càng có nhiều cán bộ bỗng dưng giàu sụ, càng có nhiều nông dân vác bị lên đường tha phương cầu thực.
Nông dân chúng tôi có gì?
Chúng tôi có lúa gạo.
Nhưng,
lúa gạo chúng tôi làm ra thuộc quyền sở hữu của Hiệp hội Lương thực Việt Nam, là những doanh nghiệp Nhà nước.
Hiệp hội Lương thực Việt Nam muốn bán gạo của chúng tôi cho nước ngoài bao nhiêu thì bán.
Giá bán gạo là một bí mật, nông dân không bao giờ được biết.
Hiệp hội Lương thực Việt Nam muốn mua lúa chúng tôi giá bao nhiêu thì mua.
Lợi nhuận hằng năm của Hiệp hội Lương thực Việt Nam là một bí mật, nông dân không bao giờ được biết.
Để ăn cướp hết lợi nhuận của nông dân – để bóc lột nông dân tận xương tủy – Hiệp hội Lương thực Việt Nam bày ra quỉ kế “mua lúa tạm trữ”.
Lừa bịp nông dân rằng mua lúa tạm trữ để giữ giá cho nông dân.
Đông xuân năm 2012,
giá lúa đang là 6.200 đồng/kg, Hiệp hội Lương thực Việt Nam tuyên bố mua lúa tạm trữ với giá không dưới 5.000 đồng/kg, để giữ giá lúa.
Vậy là giá lúa xuống còn 5.500 đồng/kg.
Giữ giá lúa cái con… khỉ khô, ăn cướp thì có.
Chỉ có bọn thần kinh không bình thường, hay bọn độc quyền mới ăn nói ngang ngược như vậy.
Vậy mà Chính phủ lại tin và cho Hiệp hội Lương thực Việt Nam vay không lãi để mua tạm trữ.
Cho Hiệp hội Lương thực Việt Nam vay không lãi để mua lúa giá không dưới 5.000 đồng/ kg khi giá lúa đang là 6.200 đồng/ kg.
Trò hề này không biết còn diễn đến bao lâu.
Cơ chế xuất khẩu gạo bất nhân, bất trí và bất lương này sao cứ tồn tại ngang nhiên? Phải chăng vì “gởi giá”?
Chính sách bần cùng hóa nông dân này không biết còn thực hiện đến bao giờ?
Nông dân chúng tôi có gì?
Chúng tôi có sự lo lắng đất bị thu hồi.
Chúng tôi có nỗi nhọc nhằn làm ra hạt lúa.
Chúng tôi có nỗi uất hận lúa bị Hiệp hội Lương thực Việt Nam mua giá rẻ rồi bán lại giá cao.
Lạy trời, cho có sự thay đổi:
Chính phủ Việt Nam giống như Chính phủ Thái Lan.
Nông dân chúng tôi có gì?
Đất đai: thuộc sở hữu toàn dân.
Lúa gạo: thuộc sở hữu của các doanh nghiệp nhà nước trong Hiệp hội Lương thực Việt Nam.
Chẳng có gì. Chúng tôi là vô sản.
Mọi thành phần kinh tế khác được phép hữu sản.
Chỉ có nông dân bị bắt mãi làm vô sản.
Người anh em công nhân thuộc liên minh vô sản, cũng được phép sở hữu nhà máy của mình.
Tại sao nông dân không được phép sở hữu ruộng đất của cha ông để lại?
Hay để dễ bề lấy đất của nông dân chia chác phân lô bán nền?
Nhân danh lý tưởng nào đem công an cưỡng chế đất của nông dân giao cho bọn nhà giàu làm dự án thu siêu lợi nhuận?
Hãy giải thích xem những “thầy dùi” của Đảng: nhân danh lý tưởng nào lại đi tước đoạt quyền sở hữu của nông dân?
Nông dân chúng tôi có gì?
Chúng tôi có một lòng tin Nhà nước.
Và mỗi ngày lòng tin ấy mỗi mất đi.

H. K.

(*) Thời báo Kinh tế Việt Nam, bài “Nhộn nhịp đầu tư bất động sản tại Văn Giang” vneconomy.vn

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN

Sơn-Thi-Thư blog: QUẢ ĐẤM THÉP

Sơn-Thi-Thư blog: QUẢ ĐẤM THÉP

Thứ Tư, 2 tháng 5, 2012

Cựu binh Mỹ và "đối thủ đáng kính"

Cựu binh Mỹ và "đối thủ đáng kính"

Chiến tranh kết thúc đã 37 năm, thêm nhiều tư liệu lịch sử hé lộ. Trong đó, cuộc gặp gỡ giữa những cựu thù xem ra rất phù hợp với lô gic nhân văn trong dòng chảy cuộc đời.

Với sự kiện “Vịnh Bắc bộ”, ngày 5.8.1964, không quân Mỹ ồ ạt đánh phá dữ dội nhiều mục tiêu chiến lược trên miền Bắc. Ở Quảng Bình, trận đầu trên sông Gianh, hải quân ta đối mặt với không quân Mỹ, bắn cháy một máy bay nhưng thương vong cũng khá lớn. Tròn nửa năm sau, không quân Mỹ tiến hành chiến dịch Mũi lao lửa . Ngày 7.2.1965 (mùng 6 tết Ất Tỵ), 13 giờ 55 phút, giữa lúc cán bộ và nhân dân thị xã Đồng Hới hưởng ứng Tết trồng cây và làm thủy lợi, 50 chiếc máy bay các loại cất cánh từ các hàng không mẫu hạm ngoài biển Đông chia thành nhiều tốp lao vào đánh phá. Bộ đội và nhân dân Đồng Hới đánh trả quyết liệt, ngay loạt đạn đầu bắn cháy một chiếc A-4D, trung úy phi công Edward Dickson nhảy dù và chết chìm dưới biển, 5 ngày sau mới được dân quân xã Quang Phú vớt lên mai táng. Kết thúc trận đánh, ta bắn rơi 4 máy bay.
Lúc 12 giờ 57 phút ngày 11.2.1965, không lực Mỹ tiến hành chiến dịch Mũi lao lửa 2 với sự tham chiến của hàng trăm lượt máy bay. Quân dân Đồng Hới bắn cháy 6 chiếc, bắt sống thiếu tá phi công Robert Shumaker. Từ đó đến hết năm 1968 và gần trọn năm 1972 Quảng Bình trở thành tuyến lửa chống chiến tranh phá hoại, bắn rơi 704 máy bay, bắn cháy và bắn chìm 86 tàu chiến, tàu biệt kích. Trong cuộc chiến mà đối phương gọi là “chiến tranh ngăn chặn”, các tuyến vận tải 15A, 12A... với các trọng điểm Khe Rinh, phà Long Đại, Khe Ve, La Trọng, đèo Mụ Giạ… chịu nhiều bom đạn nhất, có thời điểm đẩy đến độ hủy diệt.
Pháo cao xạ 37 li của lực lượng vũ trang Quảng Bình là nỗi ám ảnh của các phi công Mỹ thời bấy giờ - Ảnh: Tư liệu BTQB
Pháo cao xạ 37 li của lực lượng vũ trang Quảng Bình là nỗi ám ảnh của các phi công Mỹ thời bấy giờ - Ảnh: Tư liệu BTQB
 
Gần nửa thế kỷ sau, vào các năm 2010-2012, có một viên sĩ quan cao cấp trong đội bay Misty đã qua Việt Nam nhiều lần (có khi cùng cả gia đình), vừa du lịch “qua miền ký ức” vừa để (như thể thay mặt đồng đội) tìm lại một người mà ông gọi là “đối thủ đáng kính”, một người lính Bắc Việt, trong năm 1967 trên đường 12A ngày ngày ngồi trên mỏm núi đá vôi nã súng vào đội bay. Thông qua ông Hồ Văn Sỹ, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu và hỗ trợ các dự án phát triển, viên sĩ quan hy vọng tìm được người lính này để “tỏ lòng ngưỡng mộ".
Trích thư của đại tá Roger Van Dykeld gửi Hồ Văn Sỹ:
“Sỹ thân mến! Đây là thông tin mà tôi có về đối thủ đáng kính: loại pháo phòng không 37 li, thời gian từ tháng 10.1967 đến tháng 1.1968 (đây là thời gian tối thiểu, có thể lâu hơn). Vị trí: phía nam của mỏm đá vôi cao (không có cây) một trong hai vị trí có thể sau đây:
Vị trí 1: 17 độ 32 phút, 34 giây độ bắc; 105 độ 44 phút 14 giây độ đông.
Vị trí 2: 17 độ 32 phút 63 giây độ bắc; 105 độ 44 phút 2 giây độ đông.
Cả hai vị trí này đều nằm ở phía đông đường Hồ Chí Minh đi qua Lào phía nam đèo Mụ Giạ. Lý do tôi muốn tìm người này hoặc gia đình để bày tỏ lòng khâm phục đối với anh ấy như một đối thủ đáng kính. Những thành viên của đội bay chúng tôi đã bay dưới làn đạn lửa của người lính này gần như hằng ngày. Họ khâm phục anh ấy vì mỏm đá vôi rất cao và dốc đứng, có thể anh ta rất vất vả để chuyển được đạn cho khẩu pháo 37 li. Hơn nữa, anh ấy gần như phơi mình nên rất dễ bị không kích. Chính vì thế, đội bay chúng tôi nghĩ anh ấy rất dũng cảm. Họ đặt tên cho anh ấy là “Cậu bé ngồi trên mỏm đá vôi”. Bây giờ họ muốn liên lạc với anh ấy  hoặc gia đình để tỏ sự ngưỡng mộ với anh ấy như là một chiến binh dũng cảm, và cũng là để có thể mở rộng vòng tay hòa bình đối với những người mà trước đây đã từng là kẻ thù của mình.
Cảm ơn vì những gì Sỹ có thể sẽ giúp để định vị được người lính này hoặc gia đình của anh ấy. Tôi nghĩ là anh trai của Sỹ (đang công tác trong lực lượng không quân) cũng có thể có sáng kiến hay để tìm được người lính ấy?...”.
Bức thư được chuyển đến Hội Cựu chiến binh tỉnh Quảng Bình. Đại tá Lương Tiến Đại có ý nhờ và tôi đã gắng kết nối với một số bạn bè. Các giáo sư cựu chiến binh Nguyễn Hùng Vỹ, Phạm Thành Hưng ở khoa Văn, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội đã khoanh vùng định vị được khu vực đơn vị của người lính trên đây. Tháng 5.2010, tôi được cùng Hội Cựu chiến binh Quảng Bình đi ngang Trường  Sơn qua Lào. Trên đường  12A, giữa núi non trùng điệp, chúng tôi cũng không sao xác định được điểm cao nào người lính trong bức thư của đại tá Dykeld đã miêu tả. Vả chăng, đất nước chiến tranh 30 năm, có biết bao nhiêu người lính đã xả thân không chút tính toán. Thật khó mà kể hết công lao và tìm gặp được họ, trong khi chiến công của họ vẫn lấp lánh trong ký ức người đời và cả trong sự kính trọng của đối phương. Và biết đâu, người lính ấy đã hy sinh trong những trận đánh sau đó. Hãy để họ yên nghỉ hoặc sống bình lặng như những công dân Việt Nam bình thường sau khi  đã hoàn thành nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc.
Dù sao cũng cần biết rằng, các tọa độ mà viên đại tá Mỹ cung cấp đúng là đều nằm ở phía đông đường Hồ Chí Minh qua Lào, chính là đường 12A từ Ba Đồn lên Đồng Lê, Tuyên Hóa, Quy Đạt, Khe Ve, La Trọng, Bãi Dinh, Cổng Trời, Mụ Giạ qua Lùm Bùm… vòng về miền Nam. Trong suốt cuộc chiến tranh phá hoại, tuyến đường này đã hứng chịu hàng chục vạn tấn bom đạn của không quân Mỹ. Nơi đây có tiểu đoàn pháo cao xạ 37 li mang tên người anh hùng Nguyễn Viết Xuân bảo vệ, có tiểu đoàn Thanh niên xung phong N79 và công nhân đảm bảo giao thông với những hy sinh mất mát rất lớn. Chính trên tuyến đường này đã diễn ra trận bom B52 làm một nửa quả đồi taluy dương sạt xuống vùi lấp một tiểu đội Thanh niên xung phong, mà do yêu cầu nhiệm vụ, khi chưa tìm hết thi hài vẫn phải san đường lấp lại cho xe ra trận. Lịch sử ghi danh là “Khúc tráng ca đồi 37".
Tôi viết lại câu chuyện này hy vọng các cựu binh đã chiến đấu ở đây liên lạc để có thể giúp đại tá Roger Van Dykeld tìm lại được "đối thủ đáng kính" của mình. (còn tiếp)
Nguyễn Thế Tường

Thứ Ba, 1 tháng 5, 2012

Cựu binh Mỹ và "đối thủ đáng kính"

Cựu binh Mỹ và "đối thủ đáng kính"

Cựu binh Mỹ và "đối thủ đáng kính" - Kỳ 2: Cuộc gặp gỡ mùa xuân

Cựu binh Mỹ và "đối thủ đáng kính" - Kỳ 2: Cuộc gặp gỡ mùa xuân

Vậy là, với sự cố gắng sắp xếp đúng theo trình tự, chiều ngày 10.3.2012, cuối xuân Đồng Hới yên tĩnh và mát mẻ, phòng khách của “tướng” Trần Sự đủ chỗ cho 15 người.


Họ gồm “6 đôi nam nữ” là các cựu sĩ quan không quân Mỹ: David Allan Skilling, Michael Alan Robinson, Frank George Buchkowski, Ferederic Dean Echenberg, Roger Van Dyken, luật sư Richard Lafountaine Ralph và các phu nhân. Chủ nhà là ông Trần Sự cùng con trai - TS Trần Tiến Dũng; tác giả bài viết này và ông Hồ Văn Sỹ.
Những cái bắt tay thân mật, một bó hoa thay cho lời chào, và lời phát biểu ngắn của “tướng” Trần Sự: Xin cảm ơn và chúc sức khỏe các vị và đặc biệt là các phu nhân đã đến thăm tôi trong một ngày xuân của Quảng Bình, của đất nước Việt Nam thanh bình. Nhờ các vị chuyển lời thăm đến ngài đại tướng Ronald R.Fogleman và ngài thiếu tướng Donald W.Shepperd, chúc sức khỏe và cố gắng góp phần vào quá trình hữu nghị hợp tác giữa hai nước. Tôi có một cậu con trai, anh của thằng này (ông chỉ sang TS Trần Tiến Dũng) làm việc tại Hà Nội, đại diện cho một số công ty của Mỹ. Cuộc chiến kết thúc rồi, tương lai mở ra con đường mới (mọi người vỗ tay to). Hôm nay tôi muốn nói, vấn đề gì cũng có quy luật: chiến tranh có quy luật của chiến tranh, kinh tế có quy luật của kinh tế. Chiến tranh là thắng hay bại, kinh tế là lãi hay lỗ (sau khi ông Sỹ dịch qua tiếng Anh, phía đối tác vang lên nhiều tiếng đồng thanh ồ à…). Nhiều nước đầu tư ở Việt Nam vào nơi có lãi là đúng quy luật. Với Quảng Bình, trải qua chiến tranh ác liệt thử thách chưa từng có trong lịch sử nhưng dù sao cũng đã qua rồi, nên Đảng và Chính phủ Việt Nam đã nói, qua rồi thì khép lại cho con đường mới. Quảng Bình đủ bản lĩnh để cùng tiến bước trong sự nghiệp đổi mới. Tin rằng, các bạn cùng hướng đến tương lai, hai bên cùng có lợi (mọi người đồng thanh vỗ tay).
 Cuộc gặp gỡ mùa xuân
Các cựu binh là phi công cùng phu nhân chụp ảnh với "tướng" Trần Sự và con trai, TS Trần Tiến Dũng (giữa) - Ảnh: Nguyễn Thế Tường
Đại tá Roger thay mặt những người khách đáp từ: Cảm ơn ông đã chấp nhận cuộc gặp, và cho chúng tôi những lời nói thân tình mang lại những cảm giác ấm áp. Rất cảm kích với câu nói của ông, rằng bây giờ nên nói đến hợp tác hai bên cùng có lợi. Trở lại Mỹ, tôi sẽ chuyển tải thông điệp từ trái tim này. Vì hiện nay trong ký ức nhiều người Mỹ vẫn nhớ về Việt Nam với cảm giác nặng nề. Chúng tôi sẽ tìm cách “đẩy chiến tranh” ra khỏi đầu họ. Như lời đại tướng Ronald nói: “Chiến tranh đã về quá khứ, hãy hướng tới tương lai mà làm việc với nhau”. Các cựu sĩ quan và các phu nhân cũng tiếp lời đại tá Roger nói chuyện rôm rả.
Người Việt Nam dũng cảm nhưng nhân ái

 
Trong khi xử lý tư liệu cho loạt bài này, tôi thực sự ngạc nhiên vì thấy còn một lá thư nữa của thiếu tướng Donald vừa viết ngay trong ngày 10.3.2012 khi những chiến hữu của ông đang gặp gỡ với “tướng” Trần Sự, gửi đến các cựu binh, các lái xe đường Hồ Chí Minh, nhà văn...  và những người đã gặp các cựu binh Mỹ Misty đi cùng Goger Van Dyken:  “…tôi xin được chào các bạn, cho dù các bạn từng là ai, từng làm gì thì đối với tôi các bạn đã rất dũng cảm, là những đối thủ đáng kính trọng... tôi mong bạn, gia đình và đất nước của các bạn sức khỏe, hạnh phúc và thịnh vượng...”.

Thấy không khí có phần vui vẻ thân mật, tôi (tác giả bài viết này) mạnh dạn chêm vào: Ngài Trần Sự thời trẻ là một thanh niên đẹp trai, một chiến binh can trường (có tiếng đế vào từ phía các vị khách phu nhân và Sỹ đã nhanh miệng dịch lại “bây giờ vẫn đẹp trai”) nên rất được nhiều phụ nữ đem lòng yêu. Nhưng vì bận chiến đấu và chỉ huy chiến đấu, vả lại cũng vì “sợ” mẹ của đồng chí này (tôi chỉ sang TS Trần Tiến Dũng) nên không thể mang tình yêu đáp lại. Thật là đáng tiếc! (Sau khi Sỹ dịch xong bốn từ “thật là đáng tiếc!”, những vị khách cười ầm lên vui vẻ và vỗ tay rất to làm không khí càng thân mật hơn).
Một vị khách Mỹ bày tỏ: Người Việt Nam dũng cảm nhưng nhân ái. Thân phụ của Sỹ đã từng đi thu gom 82 thi hài sau trận B52. Vậy mà tết năm ngoái trong bữa cơm chiều 30 vợ chồng chúng tôi vẫn được ông bà mời tham dự. Bản thân Sỹ đã viết thư cho tôi kể rằng, hồi nhỏ ngồi trong hầm nghe đại bác bắn chỉ muốn lớn nhanh để đi đánh Mỹ, thế mà nay đã thành bạn bè, xưng hô như anh em. Đất Quảng Bình rất bí ẩn không khám phá được hết. Mảnh đất này thấm nhiều máu người Quảng Bình và đồng đội chúng tôi, rất đồng ý rằng đau thương cần được khép lại.
Ông Trần Sự tâm sự: Quảng Bình trải qua nhiều cuộc chiến, chỉ tính từ năm 1947-1954, đánh Pháp, có làng như Mỹ Trạch (Lệ Thủy) bị tàn sát một lúc trên 300 người. Hòa bình được 10 năm lại bom đạn đầy trời. Toàn dân phải ngủ dưới hầm trú ẩn, trẻ con được mang gửi ngủ tráo hầm với láng giềng vì sợ bom dội xuống chết cả nhà không ai hương khói. Nhưng chiến tranh kết thúc rồi thì đồng lòng đồng sức khôi phục lại cuộc sống ở vùng đất khí hậu khắc nghiệt. Chiến tranh ác liệt, nhưng chúng tôi vững vàng kiên định vượt qua khó khăn như một câu thơ cổ: “mai hoa hương tự cổ hàn lai - hoa mai đẹp và thơm nhờ chịu qua giá rét”. Chiến tranh để lại những tổn thất rất lớn, đặc biệt là những gia đình có người thiệt mạng, để lại trong tâm hồn họ những bức xúc nặng nề không dễ gì quên được như các bạn đã nói. Nhưng người Việt Nam vốn nhân hậu. Lấy ví dụ: ngày 11.2.1965, máy bay Mỹ đánh phá Đồng Hới. Trận đó bị chúng tôi bắn rơi nhiều, phi công vũ trụ, thiếu tá Sumechco nhảy dù và bị bắt sống gần nhà một ông cụ có vợ bị thương, con chết và nhà cháy vì bom. Ông cụ cầm đòn gánh định đánh Sumechco nhưng dân quân đã kịp ngăn lại giải thích chính sách của Việt Nam. Ông cụ nguôi giận cho dẫn Sumechco đi, còn dặn theo: “Dẫn cho khéo kẻo máy bay đánh nữa hắn chết đi tội nghiệp”. Vì thế, dù chiến tranh tổn thất nặng nề nhưng chủ trương của Đảng và Nhà nước Việt Nam là khép lại quá khứ, có thể từ đối thủ - đối đầu thành đối tác…
Cuối buổi tiếp, đại tá Roger thay mặt nhóm cựu sĩ quan, các phu nhân và đại tướng Ronald cảm ơn chủ nhà, những người từng là đối thủ.
Nguyễn Thế Tường

THƯ TRAO ĐỔI VỀ HIỆN VẬT CHIẾN TRANH

THƯ TRAO ĐỔI VỀ HIỆN VẬT CHIẾN TRANH

02:19 2 thg 5 2012Công khai0 Lượt xem 0


4 tháng 1 2011
Ron Ward•Thông Tin Về Phi Công Mỹ Mât Tích
Xin Chào, tôi là đại diện của VP MIA (VP Tìm Kiếm Người Mỹ Mất Tích) ở Hà Nội. Đây là một cơ quan của chính phủ Hoa Kỳ, với nhiệm vụ tìm kiếm các người Mỹ mất tích ở Việt Nam. Liên Hiệp Gia Đình của Những Người Mỹ Mất Tích (National League of Families) đã liên hệ với tôi về việc bạn đã cho họ thông tin về máy bay của ông SCHOEPPER. Đề nghị ban cho tôi biết số điện thoại hoặc email của ban, để VP của tôi có thể hiểu rõ tình trạng của máy bay ông SCHOEPPNER. Hoặc ban có thể gọi tôi ở số đ/t

 Cam ơn!

 Ronald Ward

4 tháng 1 2011

Nguyen Xuan Lien

•Xin chào !

Cảm ơn bạn đã quan tâm !

Tôi là Nguyễn Xuân Liên, chủ nhân của Bảo tàng chiến tranh ngoài trời Vực Quành, tại Thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình. có e-mail vucquanh@yahoo.com, điện thoại di động số 0912313845.

Trong quá trình sưu tầm hiện vật cho Bảo tàng của tôi, tôi có được một số hiện vật từ các nơi bán phế liệu là các di vật còn lại của một vài máy bay của không lực Hoa Kỳ bị rơi trên miền Bắc Việt Nam trong những năm 1960-1970 .

Gần đây, một người bạn đã giúp cho tôi có được một chiếc ghế phi công và một mảnh của kính chắn buồng lái có ghi chức vụ và tên của người lái chiếc máy bay đó ( tôi đã đưa ảnh lên trang FB của tôi ).

Gia đình tôi cũng có người thân/người em hy sinh trong chiến tranh từ năm 1969, đến nay vẫn không có tin tức gì. Người thân của chúng tôi cũng sinh cùng năm 1943 với ông SCHOEPPNER. Chúng tôi vẫn hy vọng một ngày nào đó sẽ có được một thông tin dù rằng nhỏ nhất về người thân/người em của mình. Vì vậy, chúng tôi cũng nghĩ rằng thân nhân của ông SCHOEPPNER cũng có tâm trạng như chúng tôi.

Chúng tôi cũng biết rằng, gần đây một số cựu binh Mỹ đã trở lại Việt Nam và trao lại các kỷ vật của các chiến sĩ Việt Nam đã hy sinh trong chiến tranh. Vì vậy, cá nhân tôi cũng muốn có một thiện chí như các cựu binh Mỹ đã làm là bằng cách nào đó sẽ trao lại kỷ vật này tới thân nhân của ông SCHOEPPNER.

Vào ngày 01 tháng 6 năm 2006, Ngài Tùy viên Quân sự của DSQ Hoa Kỳ tại Việt Nam cũng đã tới thăm Bảo tàng của chúng tôi.