Phỏng vấn chủ nhân Vực Quành tháng 12/2011 tại nhà riêng ở Hà Nội qua Trung tâm Báo chí Bộ Ngoại Giao nước CHXHCN Việt Nam hướng dẫn về chiến tranh Việt Nam.
Thứ Ba, 20 tháng 3, 2012
Thứ Hai, 19 tháng 3, 2012
VỰC QUÀNH ĐƯỢC NHẮC NHỞ ! MÌNH LẠI BỊ XẤU HỔ LẦN NỮA ?
“Ngôi làng kỳ lạ" làm từ vỏ bom, vỏ đạn
Đến thăm “làng chiến tranh” ở Vực Quành, với hầm hào, địa đạo, vỏ bom, vỏ đạn… nhiều người thốt lên rằng “đây là ngôi làng lạ nhất thế giới”.
Một góc “làng chiến tranh“
Ông lang thang về khắp các thôn xóm và thấy bất cứ cái gì của thời chiến là ông gạ mua. Từ nếp nhà ngói, nhà rạ cũ kỹ dựng những năm 60 giá vài chục triệu, từ cái hòm đạn, cái tủ gỗ thông ọp ẹp giá vài trăm ngàn, cho đến cái xẻng mòn vẹt, cái điếu cày, cái bếp Hoàng Cầm không khói, các loại vỏ bom, vỏ đạn... ông mua tất rồi khuân về chất đống trong rừng.
Người dân quanh vùng không hiểu ông già gàn dở này làm gì. Người ta có tiền ra thủ đô ở, mua trang trại gần thủ đô dưỡng già, ông lại bán nhà Hà Nội vào rừng Quảng Bình ở rồi tha mấy thứ bao tải, sắt vụn cũ nát về ngắm nghía.
|
|
Vỏ bom được dựng kín bên một hố bom khổng lồ
|
Ông Liên kể: "Mới đầu họ đến làm thuê cho tôi để kiếm chút tiền, sau rồi chính những kỷ niệm chiến tranh thôi thúc họ đã làm nhiều hơn so với công tôi trả. Có người vừa đào hầm vừa khóc vì nhớ lại thời trai trẻ. Có ông già đạp xe mấy chục cây số đến dựng nhà, đan tranh, trát vách cho tôi.
![]() |
| Căn nhà du khách nghỉ ngơi và cũng là nơi tổ chức các cuộc triển lãmvề đề tài chiến tranh |
Bạn bè ở ngoài Hà Nội cũng vào xem tôi làm. Cả lãnh đạo ở trung ương cũng lặn lội vào đây. Niềm vui đặc biệt là Đại tướng Võ Nguyên Giáp, người con đất Quảng Bình đã hai lần nhắn nhủ động viên tôi.
Thế là cái mảnh rừng heo hút này bỗng ngày ngày có rất nhiều khách thăm. Ai cũng sôi nổi ôn lại những năm tháng chiến đấu, rồi cùng ôm nhau khóc, ngả nghiêng cười, tiếng hát át tiếng bom thuở nào lại được cất lên rộn rã khắp cánh rừng".
Địa đạo ở làng chiến tranh
Lúc này, người ta không còn nhìn ông Liên là kẻ gàn dở nữa, mà khâm phục, trân trọng ông. Đó là niềm vui lớn nhất để ông tiếp tục say mê với ý tưởng vì dân, vì nước này.
Người con trai của ông, hiện đang sống và làm việc ở Đức, qua báo chí đã hiểu được việc làm của bố, thông cảm với bố hơn. Anh tranh thủ nghỉ phép về thăm và cho ông 1 tỷ đồng để ông tiếp tục thực hiện ước mơ.
Giờ đây, ông Liên đã được cả thế giới biết đến bởi cái việc làm kỳ lạ này. Một phóng viên Pháp đã bay sang Việt Nam nghiên cứu.
Căn nhà nửa chìm nửa nổi ở làng chiến tranh
Cô phóng viên này hỏi: "Sao Mỹ thả bom không chạy vào rừng núi mà nấp lại sống ở làng?". Ông trả lời: "Chúng tôi không trốn chạy mà đối diện và chống lại cuộc chiến tranh đó bằng trí tuệ và sự dũng cảm được hun đúc từ hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước".
Đặc biệt, một nhà báo hãng AP của Mỹ đến tìm hiểu viết bài. Cô này hỏi: "Việc làm của ông có ảnh hưởng đến mối quan hệ Việt - Mỹ không?".
Lớp học trong lòng đất
Ông không trả lời ngay vào vấn đề mà nói với cô ta rằng: "Bố tôi đã chết trong trận B52 rải thảm Hà Nội năm 1972, em ruột kề tôi cũng chết năm 1969 ở chiến trường miền Nam vẫn chưa tìm thấy xác. Người Mỹ đến xâm lược đất nước tôi, gây ra bao nhiêu tang tóc, chúng tôi cầm súng bắn họ để bảo vệ đồng bào mình là điều tất nhiên.
Trong khi hàng vạn liệt sĩ Việt Nam chưa tìm thấy hài cốt mà họ đòi chúng tôi phải đi tìm và trao trả hài cốt lính Mỹ, rồi bảo chúng tôi vi phạm nhân quyền.
Tôi làm cái bảo tàng này không hề khơi lại tang tóc, đau thương, cũng không hề gây thù địch với Mỹ mà chỉ để giới trẻ Việt Nam và nhân dân thế giới hiểu rằng vì sao một đất nước nghèo nàn, lạc hậu lại có thể chiến thắng cả đế quốc lớn".
Ông Liên ngày bắt đầu xây dựng làng chiến tranh
Trong số nhà báo nước ngoài đến làng chiến tranh tìm hiểu, ông ấn tượng nhất với phóng viên chiến trường của Nhật tên là Mika của hãng thông tấn Kyodo. Cô này có chồng cũng là nhà báo hy sinh ở chiến trường Irắc.
Cô đã bắt ông dẫn đi khắp làng trong suốt một ngày để chụp ảnh, quay phim, ghi chép. Cô ăn sắn luộc chấm muối vừng như người Quảng Bình ngày xưa, chứ không ăn đồ hộp mà trợ lý, phiên dịch mang theo.
Do yêu quý cô nên ông bảo cô viết vài lời cảm tưởng vào cuốn sổ để ông giữ làm kỷ niệm, tuy nhiên cô ta từ chối và bảo: "Những bài báo của tôi viết về ông và cuộc chiến tranh Việt Nam sẽ là lời cảm tưởng gan ruột nhất. Giới trẻ Nhật Bản rất quan tâm đến Việt Nam, họ say sưa nghiên cứu và thần tượng Việt Nam qua các cuộc kháng chiến, nhưng họ không hiểu vì sao Việt Nam lại đánh thắng được Mỹ. Tôi hy vọng những bài viết của tôi sẽ làm họ hiểu hơn về dân tộc kỳ lạ này".
Ông Liên giới thiệu làng chiến tranh với du khách
Sau khi thăm làng chiến tranh, ông Phan Lâm Phương, ngày đó còn là Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Bình nói với ông Liên: "Lẽ ra việc này là của Nhà nước, nhưng anh làm rồi thì Nhà nước phải hỗ trợ thêm".
Rồi ông Phương đã cho làm con đường nhựa từ đường Hồ Chí Minh vào làng chiến tranh. Ông đề nghị ngành điện dựng cột, kéo dây vào Vực Quành cho ông Liên đỡ phải sống cảnh đèn dầu leo lét giữa rừng.
Ông Liên thoáng buồn: "Lúc đầu tôi định làm nho nhỏ, nhưng rồi nhân dân cả nước động viên, khích lệ nên cứ làm nữa ra. Số tiền đổ vào đây đã hơn 4 tỷ đồng. Tôi phải vay bạn bè, người thân cả tỷ bạc rồi mà vẫn chưa hoàn thiện được. Tiền hết, làm chưa xong, mà nhiều công trình đã xuống cấp không có tiền sửa chữa tiếp…".
Tham vọng của ông Liên là muốn làm một con đường gập ghềnh hố bom như đường Trường Sơn thuở trước, rồi ông sẽ mua chiếc xe zin 130 cho du khách tự lái, để được sống lại đúng cảm giác chống Mỹ trên đường Trường Sơn.
Ông còn muốn có cả những xác xe tăng, xác máy bay, những khẩu pháo, khẩu súng hỏng để trưng bày, nhưng trong cái thời buổi sắt đắt như vàng đen này, ông lại đang gặp khó khăn về kinh tế, nên đành xót xa nhìn người dân Quảng Bình, Quảng Trị xẻ chúng ra bán sắt vụn.
Ông còn muốn phóng thật nhiều ảnh của các phóng viên chiến trường để mở triển lãm cho dân chúng xem ngay tại các hố bom. Ông còn muốn biến nơi này thành trường quay sống động cho các đoàn làm phim về chiến tranh. Ông còn muốn... Và những ý muốn đó đã biến ông thành con nợ.
Ông Liên đã trắng tay bởi cái hành trình mà ông bảo rằng, là trả nợ ký ức. Chỉ có các thế hệ người Việt Nam là đang được hưởng. Đấy là niềm vui và cũng là động lực để ông quyết tâm. Ông là con người thật lạ!
An Thái Duy
Chủ Nhật, 18 tháng 3, 2012
THÁNG DU LỊCH QUẢNG BÌNH 2012
Triển khai các hoạt động Tháng du lịch năm 2012
Cập nhật lúc 21:33, Chủ Nhật, 18/03/2012 (GMT+7)
(QBĐT) - Ngày 16-3, UBND tỉnh đã tổ chức hội nghị triển khai các hoạt động Tháng du lịch năm 2012. Tham dự hội nghị có đại diện một số ban ngành, các huyện, thành phố, cơ quan thông tấn báo chí Trung ương và địa phương... Đồng chí Trần Tiến Dũng, Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng ban chỉ đạo Tháng du lịch năm 2012 chủ trì hội nghị.
Tại hội nghị, đại diện các ban ngành, địa phương liên quan đã báo cáo kế hoạch triển khai các hoạt động Tháng du lịch 2012, đồng thời có một số kiến nghị, đề xuất với UBND tỉnh nhằm tạo hiệu quả cao trong Tháng du lịch.
Theo đó, Tháng du lịch 2012 được tổ chức trong tháng 6-2012 và mở rộng trong toàn tỉnh với nhiều hoạt động đa dạng và phong phú, tuy nhiên trọng tâm vẫn là du lịch hang động. Trước đó, vào tháng 4-2012, UBND tỉnh sẽ tổ chức hội nghị quảng bá du lịch tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh nhằm tăng cường hiệu quả cho hoạt động trọng tâm của Tháng du lịch 2012.
Phát biểu tại hội nghị, đồng chí Trần Tiến Dũng đã yêu cầu các ban, ngành, địa phương liên quan khẩn trương triển khai các hoạt động được phân công trong kế hoạch; chú trọng công tác tuyên truyền, quảng bá trên các phương tiện thông tin đại chúng; bảo đảm công tác vệ sinh môi trường, an ninh trật tự, an toàn vệ sinh thực phẩm, chuẩn bị cơ sở hạ tầng đáp ứng đủ nhu cầu của du khách trong Tháng du lịch năm 2012; Hiệp hội du lịch tỉnh và các doanh nghiệp kinh doanh du lịch cần nhanh nhạy, chủ động hơn trong việc liên kết để tìm kiếm và mở rộng các tour du lịch; giao Văn phòng UBND tỉnh tổng hợp chương trình hoạt động của các ban, ngành, địa phương trong Tháng du lịch để đưa ra chương trình cụ thể trong tháng 4-2012, phục vụ cho hội nghị quảng bá du lịch tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh...
N. M
http://baoquangbinh.vn/tin-tuc-su-kien/201203/Trien-khai-cac-hoat-dong-Thang-du-lich-nam-2012-2098359/
Tại hội nghị, đại diện các ban ngành, địa phương liên quan đã báo cáo kế hoạch triển khai các hoạt động Tháng du lịch 2012, đồng thời có một số kiến nghị, đề xuất với UBND tỉnh nhằm tạo hiệu quả cao trong Tháng du lịch.
Theo đó, Tháng du lịch 2012 được tổ chức trong tháng 6-2012 và mở rộng trong toàn tỉnh với nhiều hoạt động đa dạng và phong phú, tuy nhiên trọng tâm vẫn là du lịch hang động. Trước đó, vào tháng 4-2012, UBND tỉnh sẽ tổ chức hội nghị quảng bá du lịch tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh nhằm tăng cường hiệu quả cho hoạt động trọng tâm của Tháng du lịch 2012.
Phát biểu tại hội nghị, đồng chí Trần Tiến Dũng đã yêu cầu các ban, ngành, địa phương liên quan khẩn trương triển khai các hoạt động được phân công trong kế hoạch; chú trọng công tác tuyên truyền, quảng bá trên các phương tiện thông tin đại chúng; bảo đảm công tác vệ sinh môi trường, an ninh trật tự, an toàn vệ sinh thực phẩm, chuẩn bị cơ sở hạ tầng đáp ứng đủ nhu cầu của du khách trong Tháng du lịch năm 2012; Hiệp hội du lịch tỉnh và các doanh nghiệp kinh doanh du lịch cần nhanh nhạy, chủ động hơn trong việc liên kết để tìm kiếm và mở rộng các tour du lịch; giao Văn phòng UBND tỉnh tổng hợp chương trình hoạt động của các ban, ngành, địa phương trong Tháng du lịch để đưa ra chương trình cụ thể trong tháng 4-2012, phục vụ cho hội nghị quảng bá du lịch tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh...
N. M
http://baoquangbinh.vn/tin-tuc-su-kien/201203/Trien-khai-cac-hoat-dong-Thang-du-lich-nam-2012-2098359/
Thứ Bảy, 17 tháng 3, 2012
VỰC QUÀNH ĐƯỢC NHẮC NHỞ ! MÌNH LẠI BỊ XẤU HỔ ?
Người Hà Nội gàn dở vào Quảng Bình dựng ngôi làng kỳ lạ
(VTC News) - Đang sống nhà ấm cửa êm ở Hà Nội, ông Nguyễn Xuân Liên đùng đùng bỏ vào rừng rú Quảng Bình để xây dựng "Làng sinh thái chiến tranh", để cả gia đình cho là gàn dở.
Ngôi làng kỳ lạ nhất thế giới
Cách TP. Đồng Hới (Quảng Bình) 7km theo đường Hồ Chí Minh có một tấm biển ghi dòng chữ: "Làng sinh thái chiến tranh".
Đi lên sườn đồi hơn cây số, giữa bạt ngàn thông hiện ra chiếc cổng tre cũ kỹ, xộc xệch. Giữa bãi đất rộng chôn cột cờ bằng cây thông rất thẳng, cao. Lá cờ Tổ quốc bay phần phật trong gió.
Dưới chân cột cờ là tấm bia ca ngợi chiến công của người dân Quảng Bình và các mốc lịch sử quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta. Sau tấm bia có hố bom lớn. Xung quanh hố bom ngổn ngang vỏ bom tấn của giặc Mỹ. 8 vỏ bom dựng gần nhau, mỗi vỏ ghi một chữ: “Quyết - tâm - đánh - thắng - giặc - Mỹ - xâm - lược”.
Từ miệng hố bom du khách vượt suối Ba Đa bằng chiếc cầu phao được ghép bởi những chiếc thùng phuy, tái hiện lại những chiếc cầu phao trong chiến trường.
Từ chân đồi, đi trên con đường mòn bên phải sẽ được chứng kiến những hố bom nham nhở. Cạnh những hố bom ấy, loài hoa dẻ bản địa tỏa mùi man mác. Dưới những tán thông, keo rậm rạp, loài trạc trìu phả hương dịu mát.
Đỉnh đồi là nhà tưởng niệm bằng gỗ giản dị, trang trọng. Trên bàn thờ có tấm bia đá khắc dòng chữ: “Đời đời tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ, đồng bào, đồng chí đã hy sinh trên đường cứu nước”. Một bình hoa tươi, một quả bưởi ông Liên ngắt trong vườn và một bát hương đượm khói.
Nhà tưởng niệm có tấm bia đá rất lớn khắc tên tuổi, địa chỉ các liệt sĩ trên khắp đất nước đã ngã xuống ở mảnh đất Quảng Bình. Một tập tài liệu đóng bằng giấy khổ A4 ghi thông tin hàng vạn liệt sĩ đặt trang trọng trong tủ kính. Tập tài liệu có tên: “Mộ chí liệt sĩ tại các nghĩa trang liệt sĩ”.
Để tập hợp được số lượng địa chỉ này, ông Liên đã phải lang thang đến các nghĩa trang trong khắp cả nước để ghi chép. Ông hy vọng những người tham quan vô tình thấy tên tuổi liệt sĩ là thân nhân của mình thì sẽ tìm được phần mộ.
Đêm đêm, ông vẫn chong đèn dưới khói hương nghi ngút trong nhà tưởng niệm viết thư gửi thông tin các liệt sĩ theo địa chỉ ghi trên bia mộ trong nghĩa trang. Phần lớn thư quay ngược lại vì những địa chỉ đó đã không còn chính xác. Qua bao nhiêu năm bể dâu, tên làng, tên phố đã khác. Nhưng cũng đã có hàng trăm người tìm thấy mộ liệt sĩ nhờ ông.
Con đường mòn theo hướng tay trái từ chiếc cầu phao xuyên qua những cánh rừng heo hút, rậm rì. Làng chiến tranh với những ngôi nhà mái rạ thấp lè tè, lụp xụp chìm trong đất, lẫn với những tán cây bưởi, cây cam.
Khắp làng là những đường hầm, những giao thông hào sâu quá đầu người chạy ngang dọc, quanh co. Ngay đầu làng, 7 vỏ bom “đứng” sừng sững, mỗi vỏ có một chữ: “Chiến - đấu - giỏi - sản - xuất - cũng - giỏi”.
Cứ đi dưới giao thông hào du khách sẽ đến từng địa điểm: những trận địa pháo, những căn hầm chữ A chống bom mà nhân dân đã sáng tạo ra trong thực tiễn chiến đấu, những ngôi nhà tranh tre nửa chìm nửa nổi, những bệnh viện dã chiến dưới lòng đất, chiếc xe đạp cũ nát của Liên Xô có củ đèn để các y tá đạp cho điện sáng soi cho bác sĩ phẫu thuật…
Trong bệnh viện dã chiến ấy, ông Liên dành một góc trang trọng lập bàn thờ. Tấm bia đá khắc tên những bác sĩ, y tá liệt sĩ. Những bao gạo chất đầy trong kho mà nhân dân Quảng Bình đã đóng góp nuôi bộ đội, dù quanh năm họ ăn khoai, ăn sắn độn ngô.
Những lớp học dã chiến với đầy đủ bàn ghế, bảng viết. Khách tham quan như nghe đâu đó tiếng học sinh bi bô đọc bài, tiếng cô giáo lảnh lót giảng bài mặc cho trên đầu là mưa bom bão đạn. Ở góc lớp có tấm bia khắc tên những thầy giáo, cô giáo đã ngã xuống vì nền giáo dục nước nhà.
Ngôi nhà trẻ với những chiếc nôi bện bằng nứa. Căn hầm bí mật đủ rộng cho cả đơn vị họp bàn lên phương án tác chiến. Những đôi dép cao su, những chiếc mũ tai bèo, bị đông đựng nước treo lặng lẽ trên tường hầm. Những ngôi nhà dân rộn rã tiếng cười con trẻ, ai oán tiếng khóc mất người thân…
Cả một cảnh tượng chiến tranh sống động, hiện hữu trước mắt, lột tả chân thực hơn bất cứ một trang sách, một thước phim lịch sử nào.
Ông Nguyễn Xuân Liên cứ đi, cứ kể, cứ giải thích tỉ mỉ cho du khách từng li từng tý một. Cái bếp cũ kỹ, cái cánh cửa bị mảnh bom găm nát, cái nôi cháy xém vì bom napal, cái đèn dầu bằng vỏ bom bi, cái đuôi tên lửa Sam 2, loại tên lửa mà bộ đội ta đã bắn hạ chiếc máy bay B52 đầu tiên của Mỹ... đều gắn với những câu chuyện thời chiến.
Tất cả những thứ đó tái hiện từ trí nhớ của ông hồi ở chiến trường, sống giữa bom đạn, trong sự bao bọc của người Quảng Bình.
Tất nhiên, chẳng ai trả tiền cho cái công việc hướng dẫn du lịch của ông. Ông nhọc công làm hướng dẫn viên du lịch, cũng như nhọc công tốn của làm ra cái “làng chiến tranh” này là tri ân với người dân Quảng Bình đã bao bọc, nuôi nấng ông trong những ngày chiến tranh khốc liệt nhất.
Người gàn dở
Ông Nguyễn Xuân Liên sinh năm 1942, là dân Hà Nội gốc. 19 tuổi ông vào tuyến lửa Quảng Bình và phục vụ trong ngành y tế suốt từ năm 1961 đến 1970. Cả tuổi trẻ sống và chiến đấu giữa chiến tuyến các liệt nhất của bom đạn.
Trong suốt 30 năm trở về Hà Nội công tác ở Viện châm cứu, không lúc nào ông nguôi nhớ chiến trường, nguôi nhớ đồng đội đã hy sinh, những người dân Quảng Bình đã bao bọc ông.
Năm 1992, kinh tế khá giả, ông ba lô túi xách thăm lại chiến trường xưa. Ông vui mừng vì cuộc sống của người dân vùng cát trắng đã ấm no hơn xưa, nhưng ông chợt ngậm ngùi vì hầu như dấu tích chiến tranh khốc liệt đã bị xóa sạch.
Cả trong ý nghĩ của lớp trẻ, những khái niệm của chiến tranh cũng rất mờ nhạt. Nhiều cô giáo không biết hầm chữ A là gì, các con ông cũng không tin chuyện cả làng có thể sống triền miên hết năm này qua năm khác trong trong lòng đất.
Trở về Hà Nội, ông cứ lăn tăn phải làm gì để lớp trẻ hiểu được những điều ông kể về chiến tranh là thật? Làm sao để lớp người sau nữa có thể hình dung ra được người Quảng Bình đã tồn tại và chiến đấu kiên cường thế nào trong cảnh triệu triệu tấn bom ngày đêm dội xuống đầu?
Thế là ông nảy ra ý tưởng xây dựng một bảo tàng thu nhỏ thời máu lửa, họa may lớp trẻ sẽ không quên được cha ông chúng, những người vẫn sống khỏe mạnh sờ sờ ra đấy.
Cái ý tưởng ấy cứ nung nấu và nó lớn dần trong ông. Ông không dám thổ lộ với ai, vì mỗi lần kể ra người ta lại bảo ông rồ, ông dại.
Năm 2003, nhận sổ hưu, ông bàn với vợ bán nhà vào Quảng Bình sống và thực hiện ước mơ của ông. Vợ ông nhảy dựng lên đòi ly dị.
Ông bán căn nhà vợ chồng đang ở được 2 tỷ đồng. Ông chia cho vợ 1 tỷ để về Đức Thọ (Hà Tĩnh) dưỡng già, còn ông khăn gói, ba lô vào Quảng Bình ở nhờ nhà người đồng đội xưa.
Hàng tháng trời lăn lộn khắp chốn, ông cũng chọn mua được một mảnh đồi rừng rộng 10ha với giá một tỷ đồng, phù hợp với ý đồ của ông. Quả đồi này ở khu vực Quành, xã Nghĩa Ninh, vùng đất phía tây cuối cùng của TP. Đồng Hới.
Ngôi làng kỳ lạ nhất thế giới
Cách TP. Đồng Hới (Quảng Bình) 7km theo đường Hồ Chí Minh có một tấm biển ghi dòng chữ: "Làng sinh thái chiến tranh".
Đi lên sườn đồi hơn cây số, giữa bạt ngàn thông hiện ra chiếc cổng tre cũ kỹ, xộc xệch. Giữa bãi đất rộng chôn cột cờ bằng cây thông rất thẳng, cao. Lá cờ Tổ quốc bay phần phật trong gió.
| Tấm bia ca ngợi chiến công của người dân Quảng Bình và các mốc lịch sử quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. |
Dưới chân cột cờ là tấm bia ca ngợi chiến công của người dân Quảng Bình và các mốc lịch sử quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta. Sau tấm bia có hố bom lớn. Xung quanh hố bom ngổn ngang vỏ bom tấn của giặc Mỹ. 8 vỏ bom dựng gần nhau, mỗi vỏ ghi một chữ: “Quyết - tâm - đánh - thắng - giặc - Mỹ - xâm - lược”.
Từ miệng hố bom du khách vượt suối Ba Đa bằng chiếc cầu phao được ghép bởi những chiếc thùng phuy, tái hiện lại những chiếc cầu phao trong chiến trường.
| Cầu phao ghép bằng thùng phuy. |
Từ chân đồi, đi trên con đường mòn bên phải sẽ được chứng kiến những hố bom nham nhở. Cạnh những hố bom ấy, loài hoa dẻ bản địa tỏa mùi man mác. Dưới những tán thông, keo rậm rạp, loài trạc trìu phả hương dịu mát.
Đỉnh đồi là nhà tưởng niệm bằng gỗ giản dị, trang trọng. Trên bàn thờ có tấm bia đá khắc dòng chữ: “Đời đời tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ, đồng bào, đồng chí đã hy sinh trên đường cứu nước”. Một bình hoa tươi, một quả bưởi ông Liên ngắt trong vườn và một bát hương đượm khói.
| Mỗi quả bom là một chữ: Quyết - tâm - đánh - thắng - giặc - mỹ - xâm - lược. |
Nhà tưởng niệm có tấm bia đá rất lớn khắc tên tuổi, địa chỉ các liệt sĩ trên khắp đất nước đã ngã xuống ở mảnh đất Quảng Bình. Một tập tài liệu đóng bằng giấy khổ A4 ghi thông tin hàng vạn liệt sĩ đặt trang trọng trong tủ kính. Tập tài liệu có tên: “Mộ chí liệt sĩ tại các nghĩa trang liệt sĩ”.
Để tập hợp được số lượng địa chỉ này, ông Liên đã phải lang thang đến các nghĩa trang trong khắp cả nước để ghi chép. Ông hy vọng những người tham quan vô tình thấy tên tuổi liệt sĩ là thân nhân của mình thì sẽ tìm được phần mộ.
| Tấm bia ghi các liệt sĩ ngành giáo dục Quảng Bình. |
Đêm đêm, ông vẫn chong đèn dưới khói hương nghi ngút trong nhà tưởng niệm viết thư gửi thông tin các liệt sĩ theo địa chỉ ghi trên bia mộ trong nghĩa trang. Phần lớn thư quay ngược lại vì những địa chỉ đó đã không còn chính xác. Qua bao nhiêu năm bể dâu, tên làng, tên phố đã khác. Nhưng cũng đã có hàng trăm người tìm thấy mộ liệt sĩ nhờ ông.
Con đường mòn theo hướng tay trái từ chiếc cầu phao xuyên qua những cánh rừng heo hút, rậm rì. Làng chiến tranh với những ngôi nhà mái rạ thấp lè tè, lụp xụp chìm trong đất, lẫn với những tán cây bưởi, cây cam.
| Gian thờ liệt sĩ. |
Khắp làng là những đường hầm, những giao thông hào sâu quá đầu người chạy ngang dọc, quanh co. Ngay đầu làng, 7 vỏ bom “đứng” sừng sững, mỗi vỏ có một chữ: “Chiến - đấu - giỏi - sản - xuất - cũng - giỏi”.
Cứ đi dưới giao thông hào du khách sẽ đến từng địa điểm: những trận địa pháo, những căn hầm chữ A chống bom mà nhân dân đã sáng tạo ra trong thực tiễn chiến đấu, những ngôi nhà tranh tre nửa chìm nửa nổi, những bệnh viện dã chiến dưới lòng đất, chiếc xe đạp cũ nát của Liên Xô có củ đèn để các y tá đạp cho điện sáng soi cho bác sĩ phẫu thuật…
| Mỗi vỏ bom là một chữ: “Chiến - đấu - giỏi - sản - xuất - cũng - giỏi” |
Trong bệnh viện dã chiến ấy, ông Liên dành một góc trang trọng lập bàn thờ. Tấm bia đá khắc tên những bác sĩ, y tá liệt sĩ. Những bao gạo chất đầy trong kho mà nhân dân Quảng Bình đã đóng góp nuôi bộ đội, dù quanh năm họ ăn khoai, ăn sắn độn ngô.
Những lớp học dã chiến với đầy đủ bàn ghế, bảng viết. Khách tham quan như nghe đâu đó tiếng học sinh bi bô đọc bài, tiếng cô giáo lảnh lót giảng bài mặc cho trên đầu là mưa bom bão đạn. Ở góc lớp có tấm bia khắc tên những thầy giáo, cô giáo đã ngã xuống vì nền giáo dục nước nhà.
Ngôi nhà trẻ với những chiếc nôi bện bằng nứa. Căn hầm bí mật đủ rộng cho cả đơn vị họp bàn lên phương án tác chiến. Những đôi dép cao su, những chiếc mũ tai bèo, bị đông đựng nước treo lặng lẽ trên tường hầm. Những ngôi nhà dân rộn rã tiếng cười con trẻ, ai oán tiếng khóc mất người thân…
| Địa đạo do ông Liên phục dựng ở "Làng chiến tranh" |
Cả một cảnh tượng chiến tranh sống động, hiện hữu trước mắt, lột tả chân thực hơn bất cứ một trang sách, một thước phim lịch sử nào.
Ông Nguyễn Xuân Liên cứ đi, cứ kể, cứ giải thích tỉ mỉ cho du khách từng li từng tý một. Cái bếp cũ kỹ, cái cánh cửa bị mảnh bom găm nát, cái nôi cháy xém vì bom napal, cái đèn dầu bằng vỏ bom bi, cái đuôi tên lửa Sam 2, loại tên lửa mà bộ đội ta đã bắn hạ chiếc máy bay B52 đầu tiên của Mỹ... đều gắn với những câu chuyện thời chiến.
Tất cả những thứ đó tái hiện từ trí nhớ của ông hồi ở chiến trường, sống giữa bom đạn, trong sự bao bọc của người Quảng Bình.
Tất nhiên, chẳng ai trả tiền cho cái công việc hướng dẫn du lịch của ông. Ông nhọc công làm hướng dẫn viên du lịch, cũng như nhọc công tốn của làm ra cái “làng chiến tranh” này là tri ân với người dân Quảng Bình đã bao bọc, nuôi nấng ông trong những ngày chiến tranh khốc liệt nhất.
Người gàn dở
Ông Nguyễn Xuân Liên sinh năm 1942, là dân Hà Nội gốc. 19 tuổi ông vào tuyến lửa Quảng Bình và phục vụ trong ngành y tế suốt từ năm 1961 đến 1970. Cả tuổi trẻ sống và chiến đấu giữa chiến tuyến các liệt nhất của bom đạn.
Trong suốt 30 năm trở về Hà Nội công tác ở Viện châm cứu, không lúc nào ông nguôi nhớ chiến trường, nguôi nhớ đồng đội đã hy sinh, những người dân Quảng Bình đã bao bọc ông.
| Ông Liên và cháu nội. |
Năm 1992, kinh tế khá giả, ông ba lô túi xách thăm lại chiến trường xưa. Ông vui mừng vì cuộc sống của người dân vùng cát trắng đã ấm no hơn xưa, nhưng ông chợt ngậm ngùi vì hầu như dấu tích chiến tranh khốc liệt đã bị xóa sạch.
Cả trong ý nghĩ của lớp trẻ, những khái niệm của chiến tranh cũng rất mờ nhạt. Nhiều cô giáo không biết hầm chữ A là gì, các con ông cũng không tin chuyện cả làng có thể sống triền miên hết năm này qua năm khác trong trong lòng đất.
Trở về Hà Nội, ông cứ lăn tăn phải làm gì để lớp trẻ hiểu được những điều ông kể về chiến tranh là thật? Làm sao để lớp người sau nữa có thể hình dung ra được người Quảng Bình đã tồn tại và chiến đấu kiên cường thế nào trong cảnh triệu triệu tấn bom ngày đêm dội xuống đầu?
Thế là ông nảy ra ý tưởng xây dựng một bảo tàng thu nhỏ thời máu lửa, họa may lớp trẻ sẽ không quên được cha ông chúng, những người vẫn sống khỏe mạnh sờ sờ ra đấy.
Cái ý tưởng ấy cứ nung nấu và nó lớn dần trong ông. Ông không dám thổ lộ với ai, vì mỗi lần kể ra người ta lại bảo ông rồ, ông dại.
| Trường học dưới lòng đất. |
Năm 2003, nhận sổ hưu, ông bàn với vợ bán nhà vào Quảng Bình sống và thực hiện ước mơ của ông. Vợ ông nhảy dựng lên đòi ly dị.
Ông bán căn nhà vợ chồng đang ở được 2 tỷ đồng. Ông chia cho vợ 1 tỷ để về Đức Thọ (Hà Tĩnh) dưỡng già, còn ông khăn gói, ba lô vào Quảng Bình ở nhờ nhà người đồng đội xưa.
Hàng tháng trời lăn lộn khắp chốn, ông cũng chọn mua được một mảnh đồi rừng rộng 10ha với giá một tỷ đồng, phù hợp với ý đồ của ông. Quả đồi này ở khu vực Quành, xã Nghĩa Ninh, vùng đất phía tây cuối cùng của TP. Đồng Hới.
Còn tiếp…
An Thái Duy
http://www.baomoi.com/Home/XaHoi/vtc.vn/Nguoi-Ha-Noi-gan-do-vao-Quang-Binh-dung-ngoi-lang-ky-la/8090048.epi
Vực Quành trong chương trình Du lịch về nguồn trên VTC năm 2005
http://www.youtube.com/watch?v=vdnw2RItSMc
An Thái Duy
http://www.baomoi.com/Home/XaHoi/vtc.vn/Nguoi-Ha-Noi-gan-do-vao-Quang-Binh-dung-ngoi-lang-ky-la/8090048.epi
Vực Quành trong chương trình Du lịch về nguồn trên VTC năm 2005
http://www.youtube.com/watch?v=vdnw2RItSMc
Thứ Tư, 14 tháng 3, 2012
TỔ QUỐC GHI CÔNG LIỆT SĨ TRUNG QUỐC ĐIỀU TRA VỊNH BẮC BỘ ???
Sự kiện ngày Mười bốn tháng Ba năm 1988 được cộng đồng các Bloggers làm nóng lên trên các trang mạng liên tục trong nhiều ngày qua với cùng chung một nỗi niềm : ĐỜI ĐỜI TƯỞNG NHỚ NHỮNG ANH HÙNG LIỆT SĨ ĐÃ HY SINH VÌ SỰ TOÀN VẸN CỦA TỔ QUỐC.
Trong các bài viết đó, có nhiều bài viết của các Bloggers người Quảng Bình : Quê Choa, Cu Vinh, Cu Làng Cát, Người Ba Đồn,... (vì trình độ IT i-tờ nên xin cóp nguyên xi các đường dẫn) :
http://webwarper.net/ww/nguoibadon.blogspot.com/2012/03/sao-hiu-quanh-anh-hung-liet-sy-tran-van.html
Các anh là đồng hương huyện Quảng Trạch với Anh hùng Liệt sĩ Trần Văn Phương, trong bài viết của Cu Làng Cát và Người Ba Đồn có nói về mộ phần, mộ chí của Anh hùng Liệt sĩ Trần Văn Phương trong NTLS xã Quảng Phúc " Sao hiu quạnh thế..."
Mình chợt nhớ : Có lần đi lấy thông tin về mộ Liệt sĩ trong các NTLS Liệt sĩ ở Quảng Bình , mình đã gặp một "nghĩa trang liệt sĩ đặc biệt" như các ảnh đã được chụp vào ngày 11/9/2005 dưới đây :
Cái nghĩa trang này nằm trên địa phận xã Quảng Thuận, huyện Quảng Trạch (bên trái QL 1A theo hướng Bắc-Nam). Không biết đến nay nó có thay đổi gì không ?
Mình là dân ngụ cư nên không biết gì hơn ngoài mấy tấm ảnh này, với một câu hỏi chưa được trả lời : Không biết những người nằm dưới mồ này, họ "hy sinh" vì nhiệm vụ gì trên lãnh thổ Việt Nam ?
Thứ Ba, 13 tháng 3, 2012
ĐỜI ĐỜI TƯỞNG NHỚ CÁC ANH HÙNG LIỆT SĨ ĐÃ HY SINH VÌ SỰ TOÀN VẸN CỦA TỔ QUỐC .
Thứ Hai, 12 tháng 3, 2012
NHÀ RƯỜNG VÀ TỨ ĐẠI ĐỒNG ĐƯỜNG
— March 13, 2012 9:12 am
Đóng & mở
Posted by tvduc
Một kiến trúc sư khá nổi tiếng (không tiện nêu tên) ở TP.HCM cho biết: “Chịu. Tôi không thể nào bố trí lại được không gian bên dưới mái một ngôi nhà rường!”.
Đóng và mở.
Nhà rường là loại nhà chia không gian làm ba (hoặc hơn nữa) theo chiều cắt ngang từ cửa vào thông qua hệ thống trính và trụ lỏng, khác so với nhà rọi chỉ chia không gian trục này làm hai do cột đấu thẳng lên với nơi tiếp xúc của hai đầu kèo. Ý anh kiến trúc sư nọ là anh không thể bố trí cái không gian chung theo hệ thống cấu trúc nhà truyền thống người Việt lại theo hệ thống phòng ốc riêng biệt theo kiểu phương Tây được nên cho rằng ở nhà cổ của người Việt hoàn toàn không tiện nghi. Điều này có lẽ sẽ tranh luận sau. Ở đây ta thấy rõ ràng sự đối lập giữa một không gian ở chung – toàn thể và một không gian phân cấp từng phòng riêng – khu biệt.
Niệm khúc đóng.
Những ngôi nhà rường với không gian mở chung cho mọi người.
Đóng và mở.
Ta lại cũng thấy người Việt cách đây hơn 10 năm vẫn thích đắm mình ở những quán café vĩa hè – một thứ không gian mở, so với những quán café hộp du nhập từ phương Tây – một thứ không gian đóng kín. Bây giờ café vỉa hè cao cấp đang quay lại với những quán như Highlands, Terrace. Những thứ nửa vĩa hè như Windows… cũng đang mọc lên.
Xe gắn máy là không gian đối lập với buồng xe ôtô: mở và đóng.
Tôi cũng biết không ít người Việt vẫn thích ngồi trên xe gắn máy với không gian mở cùng với cả gia đình hơn là đóng mình bên trong một nội thất sang trọng của ô tô – một thứ không gian đóng, mặc dầu họ có điều kiện.
Tại sao người Việt, nói chung là người châu Á, từ xưa vẫn thích nghi với không gian mở? Trong lúc đó người phương Tây lại bo bo với những không gian đóng kín với quan niệm đẩy mạnh tự do cá nhân, bảo vệ sự riêng tư của từng cá thể?
Mở và đóng làm cho người liên tưởng đến hai nền triết học – phải chăng nó cũng bao trùm lên triết lý không gian sống? – của Đông và Tây: chủ toàn và chủ biệt. Phương Đông vẫn nhận thức sự vật thông qua cái toàn thể trong khi phương Tây lại thông qua từng thành phần.
Mở ra vô tận với trời và đất trong giây phút trừ tịch.
Tại sao mở? Tại sao đóng?
Khoan nói đến công năng. Vì nói đến công năng thì không gian mở đang có xu hướng thắng thế. Nhất là trong những nơi đông người hoạt động trong hệ thống công việc – không gian mà giám đốc chỉ cần đứng lên, bước ra khỏi phòng riêng của mình, là kiểm soát toàn bộ nhân viên. Hoặc nơi người ta có nhu cầu chung đụng như sàn nhảy – chẳng mấy ai đóng cửa nhảy một mình. Hoặc ngày càng nhiều những cá nhân sống độc thân – nếu bạn độc thân thì cần gì phòng ngủ, phòng ăn, phòng làm việc, thư viện?
Trong không gian mở của người Việt một thời còn chứa cả tam/tứ đại đồng đường. Nhất là những đại gia đình chỉ đủ sức xây một ngôi nhà ba gian hai chái. Thật ra tam/tứ đại đồng đường đó còn phải kể thêm cả không gian dành cho tổ tiên từ thủy tổ nữa kia – thường đặt ở gian giữa, cũng là nơi dành cho chủ nhà. Như thế trong không gian mở này “n” đại (các thế hệ) của một tộc họ đều có đủ. Phải chăng mở là một cách để không chia cắt kẻ âm người dương? Không chỉ riêng người Kinh, không gian ở của những người dân tộc ít người cũng là mở.
Trong không gian này nếu có ngăn thì cũng chỉ là những vách ngăn di động – màn kéo. Để khi cần thì cả ngôi nhà trở thành một khối rộng tênh. Không gian này vốn có nguồn gốc từ nông thôn, nơi mỗi gia đình hoặc đại gia đình lại “đóng” trong không gian riêng gồm nhà và đất vườn, so với hàng xóm, bởi những hàng rào bằng cây tự nhiên. Từ nông thôn, phát triển thành kinh thành thì những đơn vị không gian đóng-vườn, mở-nhà tiếp tục hình thành những nhà vườn ở Huế. Những đô thị thương mại từ rất sớm như Hội An mới phát triển nhà liên kế, nhưng với cấu trúc nhà truyền thống theo kiểu cột kèo, thì ngôi nhà vẫn cứ là không gian mở.
Chỉ đến gần đây, không gian ở người Việt mới đóng, rồi do sự chật hẹp chen chúc của đô thị, lại đang mở ra, chỉ còn nửa đóng, hoặc đóng ước lệ.
Với khu nhà hẹp ở Mả Lạng này, con hẻm trở thành không gian chung của từng ngôi nhà riêng và là một bộ phận của ngôi nhà – ở đó mỗi người trong xóm có những sinh hoạt riêng của mình.
Trong khi đó, từ thế kỷ thứ IV và III trước CN, ở Hy Lạp đô thị hình thành sớm, qui hoạch ô cờ cũng phát triển sớm nhất thế giới. Mỗi ô phố kích thước trung bình 30x40m, mỗi phường có 4-6 nhà. Nhiều nhà giàu, dinh thự của họ chiếm tới nửa hoặc nguyên cả ô phố. Nhà ở của chủ nô lệ hoặc nhà giàu có cách bố cục bốn mặt khép kín, có cổng vào ở một phía, nhà chính ở phía đối diện, hai cạnh bên có hành lang hoặc đặt các phòng phụ. Phụ nữ có các phòng sinh hoạt riêng. Các phòng phía bắc có ánh nắng mặt trời là những phòng chính, có khi cao hai tầng, tận dụng mở rộng không gian về hướng tốt. Phòng ăn nam giới là phòng có deco đẹp nhất, bốn phía có bệ xây bằng đất để các chủ nô lệ ngồi trên đó ăn uống (1).
Như thế ta thấy, nhà ở phương Tây mà chiếc nôi là Hy Lạp, rồi La Mã, đã có hình thành những không gian riêng và đóng kín cho từng công năng khác nhau.
Phải chăng có mối liên hệ giữa không gian kiến trúc và tư duy triết học của phương Đông và phương Tây?
Công Khanh
Ảnh: Trần Việt Đức
(1) Đặng Thái Hoàng, Lịch sử kiến trúc, tập 1, chương 4 – kiến trúc Hy Lạp cổ đại
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)













