Thứ Bảy, 17 tháng 3, 2012

VỰC QUÀNH ĐƯỢC NHẮC NHỞ ! MÌNH LẠI BỊ XẤU HỔ ?

 Người Hà Nội gàn dở vào Quảng Bình dựng ngôi làng kỳ lạ


(VTC News) - Đang sống nhà ấm cửa êm ở Hà Nội, ông Nguyễn Xuân Liên đùng đùng bỏ vào rừng rú Quảng Bình để xây dựng "Làng sinh thái chiến tranh", để cả gia đình cho là gàn dở.

Ngôi làng kỳ lạ nhất thế giới

Cách TP. Đồng Hới (Quảng Bình) 7km theo đường Hồ Chí Minh có một tấm biển ghi dòng chữ: "Làng sinh thái chiến tranh".

Đi lên sườn đồi hơn cây số, giữa bạt ngàn thông hiện ra chiếc cổng tre cũ kỹ, xộc xệch. Giữa bãi đất rộng chôn cột cờ bằng cây thông rất thẳng, cao. Lá cờ Tổ quốc bay phần phật trong gió.

Người Hà Nội gàn dở vào Quảng Bình dựng ngôi làng kỳ lạ
Tấm bia ca ngợi chiến công của người dân Quảng Bình và các mốc lịch sử quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Dưới chân cột cờ là tấm bia ca ngợi chiến công của người dân Quảng Bình và các mốc lịch sử quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta. Sau tấm bia có hố bom lớn. Xung quanh hố bom ngổn ngang vỏ bom tấn của giặc Mỹ. 8 vỏ bom dựng gần nhau, mỗi vỏ ghi một chữ: “Quyết - tâm - đánh - thắng - giặc - Mỹ - xâm - lược”.

Từ miệng hố bom du khách vượt suối Ba Đa bằng chiếc cầu phao được ghép bởi những chiếc thùng phuy, tái hiện lại những chiếc cầu phao trong chiến trường.

Người Hà Nội gàn dở vào Quảng Bình dựng ngôi làng kỳ lạ
Cầu phao ghép bằng thùng phuy. 

Từ chân đồi, đi trên con đường mòn bên phải sẽ được chứng kiến những hố bom nham nhở. Cạnh những hố bom ấy, loài hoa dẻ bản địa tỏa mùi man mác. Dưới những tán thông, keo rậm rạp, loài trạc trìu phả hương dịu mát.

Đỉnh đồi là nhà tưởng niệm bằng gỗ giản dị, trang trọng. Trên bàn thờ có tấm bia đá khắc dòng chữ: “Đời đời tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ, đồng bào, đồng chí đã hy sinh trên đường cứu nước”. Một bình hoa tươi, một quả bưởi ông Liên ngắt trong vườn và một bát hương đượm khói.

Người Hà Nội gàn dở vào Quảng Bình dựng ngôi làng kỳ lạ
Mỗi quả bom là một chữ: Quyết - tâm - đánh - thắng - giặc - mỹ - xâm - lược. 

Nhà tưởng niệm có tấm bia đá rất lớn khắc tên tuổi, địa chỉ các liệt sĩ trên khắp đất nước đã ngã xuống ở mảnh đất Quảng Bình. Một tập tài liệu đóng bằng giấy khổ A4 ghi thông tin hàng vạn liệt sĩ đặt trang trọng trong tủ kính. Tập tài liệu có tên: “Mộ chí liệt sĩ tại các nghĩa trang liệt sĩ”.

Để tập hợp được số lượng địa chỉ này, ông Liên đã phải lang thang đến các nghĩa trang trong khắp cả nước để ghi chép. Ông hy vọng những người tham quan vô tình thấy tên tuổi liệt sĩ là thân nhân của mình thì sẽ tìm được phần mộ.

Người Hà Nội gàn dở vào Quảng Bình dựng ngôi làng kỳ lạ
Tấm bia ghi các liệt sĩ ngành giáo dục Quảng Bình. 

Đêm đêm, ông vẫn chong đèn dưới khói hương nghi ngút trong nhà tưởng niệm viết thư gửi thông tin các liệt sĩ theo địa chỉ ghi trên bia mộ trong nghĩa trang. Phần lớn thư quay ngược lại vì những địa chỉ đó đã không còn chính xác. Qua bao nhiêu năm bể dâu, tên làng, tên phố đã khác. Nhưng cũng đã có hàng trăm người tìm thấy mộ liệt sĩ nhờ ông.

Con đường mòn theo hướng tay trái từ chiếc cầu phao xuyên qua những cánh rừng heo hút, rậm rì. Làng chiến tranh với những ngôi nhà mái rạ thấp lè tè, lụp xụp chìm trong đất, lẫn với những tán cây bưởi, cây cam.

Người Hà Nội gàn dở vào Quảng Bình dựng ngôi làng kỳ lạ
Gian thờ liệt sĩ. 

Khắp làng là những đường hầm, những giao thông hào sâu quá đầu người chạy ngang dọc, quanh co. Ngay đầu làng, 7 vỏ bom “đứng” sừng sững, mỗi vỏ có một chữ: “Chiến - đấu - giỏi - sản - xuất - cũng - giỏi”.

Cứ đi dưới giao thông hào du khách sẽ đến từng địa điểm: những trận địa pháo, những căn hầm chữ A chống bom mà nhân dân đã sáng tạo ra trong thực tiễn chiến đấu, những ngôi nhà tranh tre nửa chìm nửa nổi, những bệnh viện dã chiến dưới lòng đất, chiếc xe đạp cũ nát của Liên Xô có củ đèn để các y tá đạp cho điện sáng soi cho bác sĩ phẫu thuật…

Người Hà Nội gàn dở vào Quảng Bình dựng ngôi làng kỳ lạ
Mỗi vỏ bom là một chữ: “Chiến - đấu - giỏi - sản - xuất - cũng - giỏi” 

Trong bệnh viện dã chiến ấy, ông Liên dành một góc trang trọng lập bàn thờ. Tấm bia đá khắc tên những bác sĩ, y tá liệt sĩ. Những bao gạo chất đầy trong kho mà nhân dân Quảng Bình đã đóng góp nuôi bộ đội, dù quanh năm họ ăn khoai, ăn sắn độn ngô.

Những lớp học dã chiến với đầy đủ bàn ghế, bảng viết. Khách tham quan như nghe đâu đó tiếng học sinh bi bô đọc bài, tiếng cô giáo lảnh lót giảng bài mặc cho trên đầu là mưa bom bão đạn. Ở góc lớp có tấm bia khắc tên những thầy giáo, cô giáo đã ngã xuống vì nền giáo dục nước nhà.

Ngôi nhà trẻ với những chiếc nôi bện bằng nứa. Căn hầm bí mật đủ rộng cho cả đơn vị họp bàn lên phương án tác chiến. Những đôi dép cao su, những chiếc mũ tai bèo, bị đông đựng nước treo lặng lẽ trên tường hầm. Những ngôi nhà dân rộn rã tiếng cười con trẻ, ai oán tiếng khóc mất người thân…

Người Hà Nội gàn dở vào Quảng Bình dựng ngôi làng kỳ lạ
Địa đạo do ông Liên phục dựng ở "Làng chiến tranh" 

Cả một cảnh tượng chiến tranh sống động, hiện hữu trước mắt, lột tả chân thực hơn bất cứ một trang sách, một thước phim lịch sử nào.

Ông Nguyễn Xuân Liên cứ đi, cứ kể, cứ giải thích tỉ mỉ cho du khách từng li từng tý một. Cái bếp cũ kỹ, cái cánh cửa bị mảnh bom găm nát, cái nôi cháy xém vì bom napal, cái đèn dầu bằng vỏ bom bi, cái đuôi tên lửa Sam 2, loại tên lửa mà bộ đội ta đã bắn hạ chiếc máy bay B52 đầu tiên của Mỹ... đều gắn với những câu chuyện thời chiến.

Tất cả những thứ đó tái hiện từ trí nhớ của ông hồi ở chiến trường, sống giữa bom đạn, trong sự bao bọc của người Quảng Bình.

Tất nhiên, chẳng ai trả tiền cho cái công việc hướng dẫn du lịch của ông. Ông nhọc công làm hướng dẫn viên du lịch, cũng như nhọc công tốn của làm ra cái “làng chiến tranh” này là tri ân với người dân Quảng Bình đã bao bọc, nuôi nấng ông trong những ngày chiến tranh khốc liệt nhất.

Người gàn dở

Ông Nguyễn Xuân Liên sinh năm 1942, là dân Hà Nội gốc. 19 tuổi ông vào tuyến lửa Quảng Bình và phục vụ trong ngành y tế suốt từ năm 1961 đến 1970. Cả tuổi trẻ sống và chiến đấu giữa chiến tuyến các liệt nhất của bom đạn.

Trong suốt 30 năm trở về Hà Nội công tác ở Viện châm cứu, không lúc nào ông nguôi nhớ chiến trường, nguôi nhớ đồng đội đã hy sinh, những người dân Quảng Bình đã bao bọc ông.

Người Hà Nội gàn dở vào Quảng Bình dựng ngôi làng kỳ lạ
Ông Liên và cháu nội. 

Năm 1992, kinh tế khá giả, ông ba lô túi xách thăm lại chiến trường xưa. Ông vui mừng vì cuộc sống của người dân vùng cát trắng đã ấm no hơn xưa, nhưng ông chợt ngậm ngùi vì hầu như dấu tích chiến tranh khốc liệt đã bị xóa sạch.

Cả trong ý nghĩ của lớp trẻ, những khái niệm của chiến tranh cũng rất mờ nhạt. Nhiều cô giáo không biết hầm chữ A là gì, các con ông cũng không tin chuyện cả làng có thể sống triền miên hết năm này qua năm khác trong trong lòng đất.

Trở về Hà Nội, ông cứ lăn tăn phải làm gì để lớp trẻ hiểu được những điều ông kể về chiến tranh là thật? Làm sao để lớp người sau nữa có thể hình dung ra được người Quảng Bình đã tồn tại và chiến đấu kiên cường thế nào trong cảnh triệu triệu tấn bom ngày đêm dội xuống đầu?

Thế là ông nảy ra ý tưởng xây dựng một bảo tàng thu nhỏ thời máu lửa, họa may lớp trẻ sẽ không quên được cha ông chúng, những người vẫn sống khỏe mạnh sờ sờ ra đấy.

Cái ý tưởng ấy cứ nung nấu và nó lớn dần trong ông. Ông không dám thổ lộ với ai, vì mỗi lần kể ra người ta lại bảo ông rồ, ông dại.

Người Hà Nội gàn dở vào Quảng Bình dựng ngôi làng kỳ lạ
Trường học dưới lòng đất. 

Năm 2003, nhận sổ hưu, ông bàn với vợ bán nhà vào Quảng Bình sống và thực hiện ước mơ của ông. Vợ ông nhảy dựng lên đòi ly dị.

Ông bán căn nhà vợ chồng đang ở được 2 tỷ đồng. Ông chia cho vợ 1 tỷ để về Đức Thọ (Hà Tĩnh) dưỡng già, còn ông khăn gói, ba lô vào Quảng Bình ở nhờ nhà người đồng đội xưa.

Hàng tháng trời lăn lộn khắp chốn, ông cũng chọn mua được một mảnh đồi rừng rộng 10ha với giá một tỷ đồng, phù hợp với ý đồ của ông. Quả đồi này ở khu vực Quành, xã Nghĩa Ninh, vùng đất phía tây cuối cùng của TP. Đồng Hới.
Còn tiếp…

An Thái Duy

http://www.baomoi.com/Home/XaHoi/vtc.vn/Nguoi-Ha-Noi-gan-do-vao-Quang-Binh-dung-ngoi-lang-ky-la/8090048.epi

Vực Quành trong chương trình Du lịch về nguồn trên VTC năm 2005

http://www.youtube.com/watch?v=vdnw2RItSMc

Thứ Tư, 14 tháng 3, 2012

TỔ QUỐC GHI CÔNG LIỆT SĨ TRUNG QUỐC ĐIỀU TRA VỊNH BẮC BỘ ???

Sự kiện ngày Mười bốn tháng Ba năm 1988 được cộng đồng các Bloggers làm nóng lên trên các trang mạng liên tục trong nhiều ngày qua với cùng chung một nỗi niềm : ĐỜI ĐỜI TƯỞNG NHỚ NHỮNG ANH HÙNG LIỆT SĨ ĐÃ HY SINH VÌ SỰ  TOÀN VẸN CỦA TỔ QUỐC.

Trong các bài viết đó, có nhiều bài viết của các Bloggers  người Quảng Bình : Quê Choa, Cu Vinh, Cu Làng Cát, Người Ba Đồn,... (vì trình độ IT i-tờ nên xin cóp nguyên xi các đường dẫn) :






Các anh là đồng hương huyện Quảng Trạch với Anh hùng Liệt sĩ Trần Văn Phương, trong bài viết của Cu Làng Cát và Người Ba Đồn có nói về mộ phần, mộ chí của Anh hùng Liệt sĩ Trần Văn Phương trong NTLS xã Quảng Phúc  " Sao hiu quạnh thế..."


Mình chợt nhớ : Có lần đi lấy thông tin về mộ Liệt sĩ trong các NTLS Liệt sĩ ở Quảng Bình , mình đã gặp một "nghĩa trang liệt sĩ đặc biệt"  như các ảnh đã được chụp vào ngày 11/9/2005 dưới đây :









Cái nghĩa trang này nằm trên địa phận xã Quảng Thuận, huyện Quảng Trạch  (bên  trái QL 1A theo hướng Bắc-Nam). Không biết đến nay nó có thay đổi gì không ?

Mình là dân ngụ cư nên không biết gì hơn ngoài mấy tấm ảnh này, với một câu hỏi chưa được trả lời : Không biết những người nằm dưới mồ này, họ "hy sinh" vì nhiệm vụ gì trên lãnh thổ Việt Nam ?

Thứ Hai, 12 tháng 3, 2012

NHÀ RƯỜNG VÀ TỨ ĐẠI ĐỒNG ĐƯỜNG

— March 13, 2012 9:12 am

Đóng & mở

Posted by
Một kiến trúc sư khá nổi tiếng (không tiện nêu tên) ở TP.HCM cho biết: “Chịu. Tôi không thể nào bố trí lại được không gian bên dưới mái một ngôi nhà rường!”.
 
Đóng và mở.
Nhà rường là loại nhà chia không gian làm ba (hoặc hơn nữa) theo chiều cắt ngang từ cửa vào thông qua hệ thống trính và trụ lỏng, khác so với nhà rọi chỉ chia không gian trục này làm hai do cột đấu thẳng lên với nơi tiếp xúc của hai đầu kèo. Ý anh kiến trúc sư nọ là anh không thể bố trí cái không gian chung theo hệ thống cấu trúc nhà truyền thống người Việt lại theo hệ thống phòng ốc riêng biệt theo kiểu phương Tây được nên cho rằng ở nhà cổ của người Việt hoàn toàn không tiện nghi. Điều này có lẽ sẽ tranh luận sau. Ở đây ta thấy rõ ràng sự đối lập giữa một không gian ở chung – toàn thể và một không gian phân cấp từng phòng riêng – khu biệt.
 
Niệm khúc đóng.
 
Những ngôi nhà rường với không gian mở chung cho mọi người.
 
Đóng và mở.
Ta lại cũng thấy người Việt cách đây hơn 10 năm vẫn thích đắm mình ở những quán café vĩa hè – một thứ không gian mở, so với những quán café hộp du nhập từ phương Tây – một thứ không gian đóng kín. Bây giờ café vỉa hè cao cấp đang quay lại với những quán như Highlands, Terrace. Những thứ nửa vĩa hè như Windows… cũng đang mọc lên.
 
Xe gắn máy là không gian đối lập với buồng xe ôtô: mở và đóng.
Tôi cũng biết không ít người Việt vẫn thích ngồi trên xe gắn máy với không gian mở cùng với cả gia đình hơn là đóng mình bên trong một nội thất sang trọng của ô tô – một thứ không gian đóng, mặc dầu họ có điều kiện.
Tại sao người Việt, nói chung là người châu Á, từ xưa vẫn thích nghi với không gian mở? Trong lúc đó người phương Tây lại bo bo với những không gian đóng kín với quan niệm đẩy mạnh tự do cá nhân, bảo vệ sự riêng tư của từng cá thể?
Mở và đóng làm cho người liên tưởng đến hai nền triết học – phải chăng nó cũng bao trùm lên triết lý không gian sống? – của Đông và Tây: chủ toàn và chủ biệt. Phương Đông vẫn nhận thức sự vật thông qua cái toàn thể trong khi phương Tây lại thông qua từng thành phần.
Mở ra vô tận với trời và đất trong giây phút trừ tịch.
Tại sao mở? Tại sao đóng?
Khoan nói đến công năng. Vì nói đến công năng thì không gian mở đang có xu hướng thắng thế. Nhất là trong những nơi đông người hoạt động trong hệ thống công việc – không gian mà giám đốc chỉ cần đứng lên, bước ra khỏi phòng riêng của mình, là kiểm soát toàn bộ nhân viên. Hoặc nơi người ta có nhu cầu chung đụng như sàn nhảy – chẳng mấy ai đóng cửa nhảy một mình. Hoặc ngày càng nhiều những cá nhân sống độc thân – nếu bạn độc thân thì cần gì phòng ngủ, phòng ăn, phòng làm việc, thư viện?
Trong không gian mở của người Việt một thời còn chứa cả tam/tứ đại đồng đường. Nhất là những đại gia đình chỉ đủ sức xây một ngôi nhà ba gian hai chái. Thật ra tam/tứ đại đồng đường đó còn phải kể thêm cả không gian dành cho tổ tiên từ thủy tổ nữa kia – thường đặt ở gian giữa, cũng là nơi dành cho chủ nhà. Như thế trong không gian mở này “n” đại (các thế hệ) của một tộc họ đều có đủ. Phải chăng mở là một cách để không chia cắt kẻ âm người dương? Không chỉ riêng người Kinh, không gian ở của những người dân tộc ít người cũng là mở.
Trong không gian này nếu có ngăn thì cũng chỉ là những vách ngăn di động – màn kéo. Để khi cần thì cả ngôi nhà trở thành một khối rộng tênh. Không gian này vốn có nguồn gốc từ nông thôn, nơi mỗi gia đình hoặc đại gia đình lại “đóng” trong không gian riêng gồm nhà và đất vườn, so với hàng xóm, bởi những hàng rào bằng cây tự nhiên. Từ nông thôn, phát triển thành kinh thành thì những đơn vị không gian đóng-vườn, mở-nhà tiếp tục hình thành những nhà vườn ở Huế. Những đô thị thương mại từ rất sớm như Hội An mới phát triển nhà liên kế, nhưng với cấu trúc nhà truyền thống theo kiểu cột kèo, thì ngôi nhà vẫn cứ là không gian mở.
Chỉ đến gần đây, không gian ở người Việt mới đóng, rồi do sự chật hẹp chen chúc của đô thị, lại đang mở ra, chỉ còn nửa đóng, hoặc đóng ước lệ.
 
Với khu nhà hẹp ở Mả Lạng này, con hẻm trở thành không gian chung của từng ngôi nhà riêng và là một bộ phận của ngôi nhà – ở đó mỗi người trong xóm có những sinh hoạt riêng của mình.
Trong khi đó, từ thế kỷ thứ IV và III trước CN, ở Hy Lạp đô thị hình thành sớm, qui hoạch ô cờ cũng phát triển sớm nhất thế giới. Mỗi ô phố kích thước trung bình 30x40m, mỗi phường có 4-6 nhà. Nhiều nhà giàu, dinh thự của họ chiếm tới nửa hoặc nguyên cả ô phố. Nhà ở của chủ nô lệ hoặc nhà giàu có cách bố cục bốn mặt khép kín, có cổng vào ở một phía, nhà chính ở phía đối diện, hai cạnh bên có hành lang hoặc đặt các phòng phụ. Phụ nữ có các phòng sinh hoạt riêng. Các phòng phía bắc có ánh nắng mặt trời là những phòng chính, có khi cao hai tầng, tận dụng mở rộng không gian về hướng tốt. Phòng ăn nam giới là phòng có deco đẹp nhất, bốn phía có bệ xây bằng đất để các chủ nô lệ ngồi trên đó ăn uống (1).
Như thế ta thấy, nhà ở phương Tây mà chiếc nôi là Hy Lạp, rồi La Mã, đã có hình thành những không gian riêng và đóng kín cho từng công năng khác nhau.
Phải chăng có mối liên hệ giữa không gian kiến trúc và tư duy triết học của phương Đông và phương Tây?
 Công Khanh
Ảnh: Trần Việt Đức
(1) Đặng Thái Hoàng, Lịch sử kiến trúc, tập 1, chương 4 – kiến trúc Hy Lạp cổ đại


ĐẸP VÀ RẤT ĐẸP !

Khu nghỉ dưỡng suối khoáng I Resort / a21 studio
1331254827-b-23-1000x666_1064x709
Kienviet.net – Người Việt trong nhiều năm trở lại đây có một mức sống cao hơn, họ rời bỏ những khu phố tấp nập và trở về với làng quê trong các trang trại của mình hay tới các resort nghỉ dưỡng vào ngày cuối tuần. Để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng cao đó rất nhiều dự án xây dựng các khu nghĩ dưỡng đã và đang được thực hiện. Công trình Kienviet giới thiệu giới đây không phải là tiêu biểu, nhưng có thể là điển hình cho việc sử dụng các vật liệu truyền thống trong thiết kế.
Thông tin dự án :
Kiến trúc sư: a21 studio – Hiep Hoa Nguyen, Nhon Qui Nguyen, Hang Thi Tran, Tien Giao Ngo, Toan Dinh Nghiem
Địa điểm: Nha Trang, Vietnam
Mô hình: Duy Huu Nguyen, Dung Van Nguyen
Dự án năm: 2012
Ảnh: Hiroyuki Oki
Khu nghĩ dưỡng suối khoáng I-resort Nha Trang nằm tại thôn Xuân Ngọc, xã Vĩnh Ngọc, TP. Nha Trang. Nằm khá xa trung tâm thành phố, vì thế khu nghỉ dưỡng này có được sự yên tĩnh cần thiết du khách tới đây có được sự thư giãn tối đa với dịch vụ tắm bùn, suối khoáng. Trong giai đoạn 1, khu nghỉ dưỡng hoạt động với dịch vụ tắm khoáng với diện tích 7Ha trên tổng số 30Ha diện tích dự án.
Bằng cách sử dụng các vật liệu địa phương như gỗ, đá, lá dừa nước, khu nghỉ dưỡng gây ấn tượng cho du khách ngay từ cái nhìn đầu tiên. Thêm vào đó, toàn bộ khu nghỉ dưỡng được bao quanh bởi những bức tường đá bạc như màu thời gian. Và với bối cảnh những mái nhà lợp bằng lá dừa nước, những hàng hiên, khu vườn quê, hồ sen, khu spa…dường như làm khách hàng quên mất mình đang ở khu resort mà trở về với làng quê Việt Nam.
Đón xem dự án ở giai đoạn 2 với sự hứa hẹn về một tác phẩm thú vị.
Bài viết có sử dụng hình ảnh thi công tại a21studio.com.vn
Xem thêm các công trình khác của a21 tại đây.
Xem thêm hình ảnh dự án tại đây:



Thái Linh – Kienviet.net (Dịch và tổng hợp từ Archdaily)