Thứ Sáu, 9 tháng 3, 2012

MƯỜI HAI CHIẾN SĨ QUÊ QUẢNG BÌNH HY SINH TRÊN VÒNG TRÒN BẤT TỬ NGÀY 14/3/1988


 MƯỜI HAI CHIẾN SĨ QUÊ QUẢNG BÌNH HY SINH TRÊN VÒNG TRÒN BẤT TỬ NGÀY 14/3/1988

Đăng ngày: 19:17 07-07-2011
Thư mục: Tổng hợp

MÁU VẪN ĐỔ Ở TRƯỜNG SA

Mai Thanh Hải Blog - Đó là sự thật. Những năm hòa bình của thế kỷ 21 này, vẫn có nhiều người lính lặng lẽ nằm xuống trong khi làm nhiệm vụ bảo vệ quần đảo Trường Sa. Họ đều rất trẻ tuổi đời, trẻ tuổi quân và hết thảy đều chưa có vợ con, thậm chí. Một số người đã được đưa về đất liền với bố mẹ, người thân, xóm giềng. Một số vẫn phải nằm lại trên các đảo nổi cùng đồng đội, một số đang nằm dưới lòng biển sâu cùng với những cha, anh của họ, đã hy sinh cuộc chiến đấu với lính Trung Quốc, trong khi bảo vệ chủ quyền Tổ quốc trên vùng biển Cô Lin - Gạc Ma (ngày 14-3-1988). Họ là các cán bộ chiến sĩ của Lữ đoàn 146 (Đoàn Trường Sa), Vùng 4 Hải quân; đoàn 171, Vùng 2 Hải quân; Trung đoàn 83, Công binh Hải quân và cả những Học viên Học viện Hải quân đang thực tập...


Liệt sỹ Hoàng Đặng Hùng, sinh 1984, hy sinh năm 2004 khi mới tròn 20 tuổi. Hùng quê ở Hải Phòng, bố mẹ vẫn đang công tác trong Quân đội. Từ khi hy sinh ở đảo chìm, Hùng được đưa về nằm tại đảo Nam Yết và mỗi năm 1 lần, mẹ của Hùng (cũng đang công tác tại Quân chủng Hải quân) lại từ Hải Phòng vào Cam Ranh, đợi có tàu ra đảo tiếp tế, xin đi nhờ ra thăm phần mộ của con. Mỗi lần ra, bà thường ngồi bên mộ cả ngày để thì thầm nói chuyện với con trai.

Viếng mộ Liệt sĩ Nguyễn Văn Hà (Nghệ An) và Hoàng Đặng Hùng (HP) trên đảo Nam Yết

Chiến sỹ Quách Hoàng Lâm, sinh năm 1984, hy sinh năm 2006. Lâm quê ở Quận 11, TP. Hồ Chí Minh và hiện vẫn đang nằm ở đảo Trường Sa Đông

Liệt sĩ Nguyễn Văn Thi, sinh ngày 15-4-1975, hy sinh ngày 14-4-2001, quê quán: Hoàng Minh, Hoàng Hóa, Thanh Hóa. Chiến sĩ báo vụ Nguyễn Văn Thi hy sinh trong khi bơi ra dòng xoáy, cứu chiếc xuồng của đảo bị đứt dây. Do điều kiện thời tiết khắc nghiệt, đồng đội chỉ biết bất lực nhìn Thi cận kề bên cái chết. Thi hy sinh khi chỉ còn 13 tiếng đồng hồ nữa là tròn 26 tuổi.

Phần mộ Liệt sĩ Vương Viết Mão, sinh ngày 3-9-1975, hy sinh ngày 17-1-2004, quê quán: Diễn Lâm, Diễn Châu, Nghệ An
Mộ của 3 Liệt sĩ: Lâm, Thi, Mão nằm thẳng hàng bên cầu tàu đảo Trường Sa Đông

Phần mộ Hạ sĩ Đỗ Khánh Hưng, quê Gia Lộc, Hải Dương trên đảo Sơn Ca

Chuẩn bị vòng hoa, mâm quả để làm lễ tưởng niệm các cán bộ, chiến sĩ Hải quân nhân dân Việt Nam hy sinh trong khi bảo vệ đảo Cô Lin - Gạc Ma, ngày 14-3-1988. Vùng biển này rất thiêng và đặc biệt là yên ả khi tàu của ta đến neo đậu. Mỗi con tàu của ta khi đến đây làm nhiệm vụ, đều thắp hương trên khoang lái, buồng chỉ huy suốt 24/24 giờ.

Vùng biển Cô Lin - Gạc Ma: Nghĩa trang dưới lòng biển Trường Sa

Lễ dâng hương và tưởng niệm các Liệt sĩ tại vùng biển Cô Lin - Gạc Ma. Trong buổi lễ, đại diện quân chủng Hải quân tuyên bố thẳng "Các cán bộ, chiến sĩ hy sinh bởi hỏa lực và sự tấn công của lính Trung Quốc" và khẳng định "Cán bộ, chiến sĩ hy sinh trong khi bảo vệ chủ quyền biển đảo" chứ không lấp lửng, úp mở "đối phương, tàu nước ngoài"...

Làm lễ tưởng niệm và truy điệu những cán bộ chiến sĩ hy sinh trong khi bảo vệ chủ quyền tại DK1. Các đồng chí ở trong nhà giàn DK1 để bảo vệ thềm lục địa phía Nam, không cho tàu Trung Quốc và mấy thằng gần bên đến thăm dò dầu khí, đánh cá... Khu vực này, địa chất không như Trường Sa nên chẳng bói đâu ra đảo mà làm nhà. Đành phải đóng cọc thép dưới lòng biển và dựng nhà phía trên như kiểu... chòi canh. Mỗi khi sóng to, gió lớn, các lính ta phải di chuyển ra tàu trực kẻo nhà giàn bị sụp đổ. Từ 1989 đến nay, đã có một số nhà giàn sụp đổ do bão gió, khiến 9 cán bộ chiến sĩ đóng quân trên nhà giàn hy sinh, không tìm thấy xác

Nơi nhà giàn cũ đổ xuống, mang theo toàn bộ cán bộ, chiến sĩ đóng quân ở trên, hiện ta đã xây lại nhà giàn mới. Trong khi tàu làm lễ tưởng niệm, các cán bộ chiến sĩ đóng trên nhà giàn cũng tập trung lên nóc nhà cùng tưởng niệm các đồng đội đang nằm dưới lòng biển.

Bia ghi tên các Liệt sĩ đã hy sinh trong khi bảo vệ Trường Sa

Danh sách các Anh hùng, Sĩ quan và những chiến sĩ hy sinh từ 1975-1983

Hy sinh thời điểm 2005-2008 và đặc biệt là 64 chiến sĩ hy sinh trong ngày 14-3-1988

Đến con số chưa phải là cuối cùng: 131 cán bộ - chiến sĩ
 
 
Dưới đây là đường dẫn đến vidéo clip Hải chiến Trường Sa :
 

HUỆ ƠI LÀ HUỆ !!!

Giữa thời thủ tướng thì luôn chỉ đạo phải giảm, giảm, giảm thật nhiều lạm phát, dân chúng phải luôn tin tưởng .

Rứa mà từ khi hôm tới chừ, miềng gặp luôn hai cú sốc :

Cú thứ nhất : Xăng tăng có hai ngàn mốt một lít, dân tình đang lo giá các loại sẽ tha hồ ăn theo. Nhưng sáng nay đọc báo lại thấy ông Nguyễn Tiến Thỏa/Mãn ở cái cục quản lý giá ở bộ của anh Huệ (quyết tâm hạ giá xăng dầu hồi...
mới nhậm chức) bảo là tăng rứa còn thấp, lẽ ra phải tăng tới sáu ngàn mới đặng. Dân mình sướng thật. May mà miềng có mỗi con wave tàu, uống xăng mỗi tháng có mười mấy lít, chỉ thương cho các đồng chí đầy tớ dân đi mần bằng xe 4 bánh, lương ít rứa mần răng đủ tiền mua xăng ?

Cú thứ nhì : Miềng trung thành với anh Viễn thông điện lực (EVN tê-lê-côm) từ khi anh mới ra đời. Số máy của miềng dùng để giao dịch đã đi vào lòng dân từ lâu rồi. Nay vì tái cơ cấu, anh Vịt-teo làm ăn "giỏi" hơn nên đã được cấp trên cho thêm cái EVN tê-lê-côm này. Đấy là việc quan, ai rỗi hơi "gái góa lo việc triều đình". Nhưng như rứa cũng nỏ được, sau khi anh Vịt-teo đã thịt xong anh Viễn thông điện lực, anh Vịt-teo có một chiêu mới đánh vào các chủ thuê bao đang sử dụng dịch vụ của anh EVN tê-lê-côm : MUỐN TIẾP TỤC SỬ DỤNG SỐ ĐIỆN THOẠI ĐANG DÙNG, CÁC CHỦ THUÊ BAO PHẢI MUA MÁY DO VỊT-TEO CUNG CẤP, NẾU KHÔNG SẼ NGỪNG CUNG CẤP DỊCH VỤ. Ơ hay thật, tái cơ cấu lại đánh vào đầu người tiêu dùng ?

Mần răng chừ, không mua máy của Vịt-teo thì mất số liên lạc, mua thì phải chi ra.

Giữa thời lạm phát, cứ phải tiếp tục chi thì làm sao mà giảm được. Các bậc trí tuệ cao, thử tính tổng số tiền các chủ thuê bao cũ của EVN tê-lê-côm phải bỏ ra để mua máy do Vịt-teo bắt buộc sẽ là bao nhiêu ?

Ăn phở tái đắt hơn ăn phở chín !

Liệu có tái đi tái lại không nhỉ ? Nhà cháu băn khoăn quá !

Thứ Ba, 6 tháng 3, 2012

NGÀY 8 THÁNG 3

Phụ nữ là thần tiên, thiên thần của đời

Tháng Ba 7, 2012
Bùi Quang Minh


 

Gửi em, nàng tiên và thiên thần của đời này và mãi mãi nếu còn có đời sau, sau nữa… Nàng là nữ, và người phụ thì chính là nàng! Nàng có thật là cô gái hay là nàng tiên mà sao không thể nào bằng ngôn ngữ tả được. Trời ơi, hào quang từ nào, hương thơm ngát từ nàng tỏa ra như một tuyệt thế giai nhân của trần gian! Hỡi nàng ơi, tôi đặt hai tay lên ngực, nơi trái tim và nói: Nàng là người ngây ngất men say, tươi như hoa, như mời gọi nụ hôn, tuyệt vời như thiên thần, nhưng hiểm nguy như lửa bỏng – cái nhìn dịu dàng nhưng khao khát, lời nói ngọt ngào, nụ cười toả sáng



 







Nói chung thì nàng thật khêu gợi, tuyệt thế giai nhân, danh nổi như cồn, quý tộc, quý phái, đầy phong cách, cực kỳ nghệ sĩ, thanh lịch, trang nhã, lịch thiệp, toả sáng, dễ chịu, không thể bắt chước, không hề lặp lại, sành điệu, có gu, đáng yêu, giàu trí tưởng tượng, mềm mại và thanh mảnh, thoát dáng, xứng đáng mọi thứ trên đời, dữ dội, ngộ nghĩnh, ngây thơ, dễ thương, khả ái, rực rỡ, cuốn hút, quảng giao, khiêm tốn, chói sáng, đam mê, đắm say, vẫy gọi, nồng nàn, láu lỉnh, ma mị, nhạy cảm, ngọt ngào, lạ thường, làm mê đắm, chân thành, nội tâm, kín đáo, ý nhị, vị tha, dịu dàng, âu yếm, như mật ngọt, chu đáo, đồng cảm, kiêu hãnh, tài năng, gây choáng váng, lãng mạn, quyến rũ, có đức tin, lấp lánh, rạng ngời, huyền ảo, ảo diệu, vui tươi, luôn mới mẻ, thiên phú, bùng phát, khao khát, nóng bỏng, nhạy cảm, trung hậu, đảm đang, dũng cảm, huyền diệu, ai cũng mong chờ, prồ, không đủ lời khen, chăm chỉ, chịu khó, luôn chân luôn tay, có bàn tay vàng, khéo tay, khéo léo, giỏi giang, quán xuyến, thạo việc, chịu thương chịu khó, tự chủ, ấn tượng, xuyên thấu, thấu thị, chân thành, tinh tế, đẳng cấp, trung thực, chấn động, phi phàm, thông minh, ham hiểu biết, đầy nghị lực, dễ mến, nghịch ngợm, lạc quan, không thể thiếu, ngon như trái chín, nhí nhảnh, vui nhộn, hoạt bát, sôi nổi, nhiệt huyết, chín chắn, từng trải, thùy mị, e lệ, ngọc ngà, bí ẩn, bí hiểm, vô giá, bướng bỉnh, yêu đời, dịu hiền, chịu đựng, cuốn hút, trong trắng, ngây thơ, tự tin, thông tuệ, sắc sảo, sáng ý, thông minh, thông tuệ, trắng trẻo, hào phóng, xinh đẹp, kiều diễm, diễm lệ, uyển chuyển, duyên ngầm, lý tưởng, có hương thầm, nghịch ngợm, tinh nghịch, hoạt bát, hoàn hảo, e lệ, chung thủy, khơi lửa, vững vàng, đáng tin cậy, có trước có sau, chung thủy, mơ mộng, hài hước, bất khuất, tấm lòng vàng, kiểu mẫu, mến khách, chịu đựng, nhẫn nại, bền bỉ, kiên trì, kiên gan, đặc biệt, độc đáo, nổi bật, trẻ trung, không có tuổi, thách thức thời gian, sáng tạo, chủ động, hiếm có, khó với, nhanh nhẹn, cá tính, quý báu, hiếm gặp, láu lỉnh, khó đoán, tay hòm chìa khóa, cân đối, nghiêm nghị, đoan trang, vị tha, lo xa, đẹp như tranh vẽ, hy sinh, tận tụy, lợi khẩu, đầy mâu thuẫn, quên mình, hào phóng, nhẹ nhõm, dễ tha thứ, tin người, đỏng đảnh, vô tư, cảm thông, đồng cảm, ý nhị, sáng ý, ý tứ, nuột nà, khỏe mạnh, nhanh nhẹn, tươi tắn, tinh nghịch, hài hước, mạnh bạo, mạnh mẽ, mong manh, khó nắm bắt…
 


Còn trong tình yêu thì nàng như một thiên thần, huyền diệu, tỏa sáng, lấp lánh, tuyệt mỹ, thần thánh, mê ly, ngọt lịm, mê hồn, ám ảnh, khiêu khích, chinh phục, làm mê muội, phi thường, trên cả tuyệt vời, nồng nàn, nóng bỏng, bốc lửa, đầy hấp lực, vĩ đại, phồn thực, sung mãn, ma mị, duyên dáng, không thể quên, sáng tạo, đỏng đảnh đáng yêu, ngọt ngào, bay bổng, êm ái, dịu dàng, đầy cảm hứng, sôi sục, như bão giông, như cổ tích, như nữ chiến binh Amazon, huyền diệu, quyến rũ, như bùa ngải, ấn tượng, nôn nao, nổi loạn, ấm áp, mặt trời nhỏ, hay e thẹn, gây xao xuyến, gây rạo rực, làm xốn xang, làm điên đảo, đầy nữ tính, đầy khát khao, cám dỗ, quyến rũ, đầy thuyết phục, bùng nổ, tuyệt diệu, bột phát, không lời nào tả xiết, luôn bất ngờ, không thể thay thế…

 Và tất nhiên điều nhất thiết phải nói: Nàng là người yêu thương nhất, nhất, nhất (n lần nhất, n mũ n mũ n…) trên đời!



 




http://haydanhthoigian.net/2012/03/07/ph%e1%bb%a5-n%e1%bb%af-la-th%e1%ba%a7n-tien-thien-th%e1%ba%a7n-c%e1%bb%a7a-d%e1%bb%9di/

Chủ Nhật, 4 tháng 3, 2012

BẦU CỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI KHÓA XIII TẠI TIÊN LÃNG





Thủ tướng chính phủ Nguyễn Tấn Dũng cùng đoàn ứng viên đại biểu quốc hội tại huyện tiếp xúc cử tri và trồng cây lưu niệm tại Từ đường Nguyễn Nhữ xã Kiến Thiết


Danh sách ứng viên đại biểu Quốc hội và HĐND thành phố

THUỐC LÀO TIÊN LÃNG

Thuốc Lào – sản vật Tiên Lãng quê tôi
Posted 12/22/2011 11:57:40 AM by Lâm Hoàng Sơn
Under

Last comment 12/26/2011 11:07:23 AM
Tuy sinh ra ở TP. Hải Phòng, nhưng tuổi thơ tôi luôn chìm ngập trong hương thơm của thuốc Lào quê ngoại. Kỷ niệm chua nhất chính là một lần rình các cậu dì mải làm, tôi và thằng em trai khi đó tầm 7 – 8 tuổi lấm lét hút trộm trong sự ngưỡng mộ cách người lớn nhả khói. Hít một hơi khói thật sâu từ chiếc điếu bát cũ kỹ của ông ngoại rồi mặt tái xanh, thở ko ra hơi, ngã ngồi xuống tấm phản. Sau đó thì chỉ có thể mấy tiếng không ăn được gì, nằm nhổ nước bọt và nôn khan từ trên giường xuống đất. Nhớ đời!
Hút thuốc lào nâng cao sĩ diện.
Thơm mồm bổ phổi,diệt trùng lao.
Nâng điếu lên như Triệu Tử cầm đao.
Nhả khói ra như Khổng Minh gọi gió.
Hút thuốc lào nâng cao hãnh diện
Bật que diêm như chớp lửa đêm đông
Hút 1 hơi như sấm chớp đùng đùng
Nhả khói ra như rồng bay phượng múa
Mắt lờ dờ như nghệ sỹ ngâm thơ.

Cây thuốc Lào là sản vật quý của quê ngoại Tiên Lãng (Hải Phòng). Người nông dân quê tôi một nắng hai sương bên cây lúa, nhưng cũng mất ăn mất ngủ bên cây trồng phụ là thuốc Lào. Từ tháng 11 âm lịch, hạt giống cây thuốc được người trông gieo xuống đất màu.
Ảnh: Cánh đồng thuốc non tháng trước Tết Nguyên đán.
Chăm băm tưới bón đến cuối tháng 4 âm lịch, lá thuốc được thu hái. Những cây thuốc tốt nhất được giữ lại, cho ra hoa và kết hạt. Đến tháng 5 âm lịch, hạt thuốc lại được thu hái  và cất trữ đợi tháng chạp sang năm. Vị chi vòng đời cây thuốc là gần 6 tháng.
Ảnh: Thuốc ra hoa vào tháng 3 Âm lịch.
Lá thuốc Lào được thu hái khi nó đạt hương thơm tốt nhất. Những phiến là to như cái mo cau, dày dặn với lớp lông tơ dài dinh dính nhựa và đặc biệt chỉ hít nhẹ vào mũi đã đậm say hương thuốc ngạt ngào.
Lá được hái xuống, đem ủ cho hơi se mặt lá. Sau đó mỗi nhà tùy theo nhân lực và sản lượng thuốc sẽ mời các thợ thuốc có tay nghề trong làng đến cuộn lá thuốc thành những cây thuốc to tương đương một thân chuối tây, dài gần 2 mét. Các cây thuốc lại được ủ trong một môi trường nhiệt độ và yếm khí thích hợp hơn một tuần tùy theo chất lượng thuốc mong muốn. Lúc này, lá thuốc dậy mùi thơm đậm đặc hơn trước.
Ảnh: Thu hái lá thuốc vào cuối tháng Tư Âm lịch.
Một ngày đẹp trời nắng ráo, phải thật đẹp trời, theo lịch đã được thỏa thuận giữa các nhà trong làng có quan hệ thân thiết, các thợ thuốc sợ kéo đến nhà ông ngoại. Lúc này cả một guồng máy bao gồm các công đoạn: thái thuốc, rây thuốc, phơi thuốc và không thể thiếu được một đội ngũ các dì, mợ giết gà, vịt hoặc lợn để làm cơm cho thợ ăn.
Ảnh: Cậu tôi, một thợ thái thuốc điển hình với các công cụ thái thuốc: bàn mài dao, dao, bàn thái thuốc...
Đối với lũ trẻ con chúng tôi, đây là một ngày hội ở nhà ông. Rất đông các cậu họ hàng kéo tới. Nhưng con dao thái thuốc có hình dạng đặc biệt được mài xoèn xoẹt. Tiếng hô khi thợ đặt từng cây thuốc đã được ủ kỹ lên giá thái thuốc. 4 - 5 chiếc giá thuốc cong cong được bày trong sân gạch. Bạt được phủ khắp sân để che nắng cho thợ thái thuốc. Tiếng các mợ, các bà vừa trò chuyện vừa ngồi rây những sợi thuốc xanh mát còn nguyên màu mới cắt được rây thành những lớp mỏng trên những chiếc nong to tròn. Tiếng thợ phơi thuốc ý ới gọi nhau cùng nâng những chiếc nong thuốc to lên những giàn phơi bằng tre trên mái nhà, trên bờ tường.
Thuốc sau khi thái được phơi khắp nơi trong làng. Hai bên đường làng la liệt những chiếc nong, nia thơm nức. Màu sợi thuộc từ xanh chuyển sang vàng nhạt, rồi nâu sậm trải khắp làng.
Giai đoạn phơi thuốc là giai đoạn quan trọng, các cậu các dì luôn thấp thỏm trông nom, không dám đi đâu xa. Hễ trời chỉ hơi sậm sì là phải theo dõi để cất hàng chục nong thuốc để tránh bị mưa. Chỉ cần dính vài hạt mưa là thuốc bị hỏng. Mà hàng chục cái nong to thì không thể một thoáng có thể cất hết kịp tránh mưa, nên đây là thời điểm quan trọng tới chất lượng thuốc.
Thuốc sau thời gian phơi được nắng, lại được ông tôi dồn vào trong những bao ni lông vừa dày vừa kín, ủ trong những chiếc chum vại đất nung rất lớn. Ủ vài tháng, lúc nào cần tiền thì gọi lái buôn đến bán. Thuốc Lào mang thương hiệu Tiên Lãng quê tôi tỏa đi khắp nơi. Tận Hà Nội hay Sài Gòn đều có những tiệm thuốc treo biển “Thuốc Lào Tiên Lãng” như một sản vật đặc biệt của vùng đồng nước đậm phèn quê tôi.
Thuốc Lào Tiên Lãng,
Chồng hút vợ say,
Thằng con châm điếu lăn quay ra nhà,
Có nhà hàng xóm đi qua,
Hít phải khói thuốc say ba bốn tuần.
Thêm chú gà trống ngoài sân,
Mổ nhầm bã thuốc cánh chân... cứng đờ.
Lại còn chị mái hoa mơ,
Hơi thuốc bay đến bơ phờ cả ... lông.
Khói thuốc cứ toả vòng vòng,
Say hết tất cả nước trong, nước ngoài.
Ngọc Hoàng trông thấy hay hay,
Vén mây nhìn xuống cũng say thuốc Lào.

Ngày 04 tháng 3 năm 2012

Phường Đông Khê Hải phòng học và làm theo Tiên lãng.

 Đầu năm, thật  bất ngờ khi gặp lại chị, một người đàn bà từng bán nước chè chén cho anh em chúng tôi cách đây sáu năm, khi chúng tôi đang làm cho một dự án tại Hải phòng - xây dựng tòa nhà TD Plaza, ngay cạnh Big C Hải phòng.
 Khi ấy, chưa hề biết rằng : gia đình chị - một gia đình Liệt sỹ - lại bị chính quyền Phường Đông Khê, Hải phòng có những hành vi coi thường pháp luật và dư luận như vậy. Sự việc đã sáu bảy năm trời, đơn từ đã năm lần bảy lượt chỉ đạo từ trên xuống Hải phòng, thế nhưng sự khốn nạn tiếp tục xảy ra : Gần Tết vừa rồi, phường Đông khê đã cho các lực lượng đến phá nốt cả căn lều cuối cùng trên mảnh đất nhà chị, chỗ thờ Liệt sỹ là anh trai chị cũng không còn.
 Chị nhờ đưa các thông tin và hình ảnh về lần đập phá, cướp đồ của nhà chị lên truyền thông để công luận biết, lên tiếng và gây áp lực lên chính quyền Hải phòng, yêu cầu trả lại sự công bằng cho gia đình chị. 
 Và mình đồng ý. 
 Đưa vội  trước mấy ảnh lên, còn nhiều ảnh nữa sẽ đưa tiếp để bà con xem.
Phó chủ tịch phường Đông khê có mặt trong vụ cướp  phá nhà Liệt sỹ.
 
Căn lều cuối cùng trên mảnh đất nhà chị mới bị phá nốt.

 Công an phường bảo vệ cho phá nhà.

Công an phường bảo vệ cho phá nhà.
 

    Đi phá nhà Dân nhưng vui như hội.
 (Ảnh được chụp, gửi từ điện thoại di động, chưa biết  sửa ra sao trong blogspot để cho nó xoay ngang, bà con thông cảm xem tạm.)
Thanh tra Chính phủ đã " nhiều lần " gửi văn bản cho Hải phòng nhưng...
 Văn bản mới nhất chị Thư  nhận được, ai đọc  chắc cũng phát chán về mấy cái từ  : '' đã nhiều lần...".
Hải phòng liệu có phải là một cát cứ ?
 Hiện nay chị Thư vẫn hàng ngày đi đi lại lại lên Văn phòng tiếp Dân của Trung ương Đảng và Chính phủ để ...gửi đơn.
 
http://webwarper.net/ww/quehuongcualua.blogspot.com/2012/03/phuong-ong-khe-hai-phong-cuop-at-cuop.html

Thứ Năm, 1 tháng 3, 2012

DÒNG SÔNG KỶ NIỆM




Đò dọc sông Gianh







NGỌC PHƯƠNG NAM. Trời ! Tôi đọc xong bài văn Đò dọc sông Gianh của thầy Hoàng Thái Sơn do anh Thanh Vân giới thiệu mà lặng người rưng rưng. Kỹ niệm Dòng sông quê hương ào ạt chảy về.Cha tôi là người chèo đó dọc sông Gianh từ ngã ba ráo Nan, nguồn Son vào chợ Tróc động Phong Nha và từ ngã ba sông này xuống cửa Hác, Phú Trịch, Ba Đồn lên lèn Bảng, Tuyên Hóa suốt từ năm 1954 đến năm 1968 khi ông bị bom Mỹ giết hại. Ông cũng đã cứu người chết đuối bị nạn và được ông thầy bói nổi tiếng Cao Lao Hạ tri ân tặng lời khuyên cho gia đình mình nay lập nghiệp đất phương Nam . Anh mẹt Phiếm nối tiếp công việc cha mình nhưng chỉ chèo đò ngang chợ Mới. Anh đã liều mình cứu sống chín học trò chìm đò và anh đã đổi bằng mạng sống. Vụ chìm đò ở Quảng Hải mới đây Nguyễn Quang Lập (con thầy Nguyễn Quang Đạng) có viết về Những con rạm bè sông Gianh và chuyến đò dọc cứu được gần một nữa số mạng người gặp nạn. Sông Gianh yêu thương, huyền thoại và lịch sử, suốt đời mình mang ơn. Biết bao buồn vui với mình bên dòng sông này mà mình chỉ mới viết được đôi dòng rụt rè ở Thầy bạn là lộc cuân cuộc đời. Cám ơn thầy Sơn. Cám ơn Thanh Vân. Cám ơn sự khơi dậy nguồn tâm thức của những người con xa xứ hướng về cội nguồn quê hương (lời bình và ảnh sông Gianh: HK).
ĐÔI BỜ SÔNG GIANH. Nhà văn Hoàng Thái Sơn là thầy giáo dạy văn của Thanh Vân thời học cấp ba . Thầy nguyên là Tổng biên tập tạp chí Nhật Lệ. Nhà thầy và nhà tôi cách nhau dòng sông Gianh với chuyến đò ngang thảnh thơi, buông mái chèo đợi khách. Đôi bờ sông Gianh, đò ngang bây giờ vẫn còn nhiều. Những chuyến đò dọc sông Gianh đã không còn nữa. Đò dọc chỉ còn trong trí nhớ những người đã lớn tuổi. Và khi lớp người này đi về với tổ tiên ông bà, đò dọc sông Gianh cũng theo họ biến mất khỏi cuộc sống những người hiện tại. Blog của tôi lấy tên Đôi bờ sông Gianh nhưng tôi nào viết được dòng nào về dòng sông tuổi thơ ấy. Qua anh Nguyễn Đình Chiến tôi vui mừng được gặp thầy cũ, và gặp được tuỳ bút Đò dọc sông Gianh của thầy. Xin trân trọng giới thiệu với bà con Xóm Lá bài tuỳ bút này này để cùng chiêm nghiệm một dòng sông lịch sử, một chuyến đò dọc rất thơ của một vùng quê nghèo khó. Bài tuỳ bút này thầy viết hộ những người viết sử tỉnh Quảng Bình và thay lời cho bao nhiêu người con sống bên bờ sông đã đi xa.
ĐÒ DỌC SÔNG GIANH
Hoàng Thái Sơn
Thuở bé tôi đã nhiều lần đi thuyền trên dòng sông này, nhưng phải xuôi đến Ba Đồn mới cảm nhận hết những gì dòng sông mang lại từ ngày ấu thơ đi hết cuộc đời vẫn nhớ.
Chợ Ba Đồn, gọi tắt là Chợ Đồn. Từ xưa đã có câu hát “Chợ Đồn một tháng ba phiên”. Chợ họp vào ba ngày 6, 16 và 26 âm lịch hàng tháng. Về sau do nhu cầu giao thông ngày càng cao, chợ tăng thêm ba phiên nữa, là các ngày 1, 10 và ngày cuối tháng âm lịch, câu ca trên thành thử đã lạc hậu rồi cùng rất nhiều thứ nay không còn bóng dáng…Chợ Đồn có những hấp dẫn riêng không mấy nơi có, và trong trí nhớ, trong cảm nhận mỗi người, mỗi lứa tuổi, mỗi vùng địa lí lại có cái riêng biệt. Như tôi ngày nhỏ, hay có mặt trên con đường quan chạy sát bìa rừng, nhiều lần thấy những ông lái bò lùa đàn bò năm ba con qua làng về chợ, nhưng hay hơn cả, là những ông lái chó mặc áo quần gụ, đội nón mê, tay cầm mấy chục sợi dây lùa đàn chó vừa chạy vừa nhìn ngó, có con kêu ăng ẳng, mà số phận được định đoạt ở mấy cái quán cầy Chợ Đồn bên cạnh chai rượu Tượng Sơn ngon nhức răng làm say khách đường xa…Đâu rồi những ông lái bò, những ông lái chó năm mươi năm trước thủng thẳng bước giữa trầm mặc cuộc đời, trong chầm chầm của con đường làng quê vương bóng chiều… Có nhiều bài viết hay về Chợ Đồn, nhưng tôi vẫn cứ muốn nói thêm về cái chợ tuyệt vời này, có lẽ một lần nào khác vậy.
Được đi Chợ Đồn bấy giờ còn sướng hơn đi siêu thị, thậm chí hơn đi du lịch thời nay. Cái thời không thông tin, không sách báo, không giải trí đó, bước ra khỏi luỹ tre làng là dịp hiếm. Làng tôi – làng Xuân Mai – cách chợ Đồn độ ba chục cây số thôi, nhưng ngày nhỏ tôi thấy thật xa xôi. Chính người lớn cũng cho là rất xa, và nếu nhìn lên vùng trên Đồng Lê, Thanh Lạng, Quy Đạt mây mù bao bọc, càng hiểu với họ, Chợ Đồn còn xa vời vợi. Thành thử chuẩn bị đi chợ đã là một thứ công việc. Cứ lấy một phiên chợ 16 chẳng hạn, mọi chuẩn bị đã bắt đầu từ ngày rằm rồi, chưa nói là hàng hoá có thứ phải lo trước cả năm; mẹ tôi làm nghề dệt vải, để có vải bán, không lo mọi việc cả năm thì gì. Từ sáng, mẹ tôi đã đi hỏi xem nốôc của ai phiên này sẽ đi “ăn chợ”, lại phải hỏi coi cái nốôc ấy có ghé ngang ghé tắt nơi nào nữa không, bởi nếu ghé, thì đến chợ có thể chậm và nhất là khi về, sẽ gặp khối thứ phiền hà. Ấy, cái sự kĩ càng của mẹ tôi là sự kĩ càng của một người đàn bà dày dạn kinh nghiệm sống, khi mọi chuyện trong nhà, từ cái ăn cái mặc tới mái tranh dột mưa, đêm hôm có trộm cắp…đều phải lo cả, vì ba tôi cả đời đi xa. Mẹ tôi hay đi nốôc của anh Mẹt Nậy, anh Cu Phúc hay anh Mẹt Liến; những nốôc này rộng, làm ăn khá, chủ nhân lại khoẻ và rất thành thạo nghề sông nước. Thường họ làm nghề buôn chuối, mít, bưởi bòng, mùa nào thức ấy. Có hôm tôi thấy trên mui những chiếc thuyền xuôi sông vàng rực một màu. Sản vật vùng quê tôi đó. Đến Tuyên Hóa, đi dọc đôi bờ sông Gianh mượt mà phù sa, bê dâu xanh ngắt, tre pheo vi vu trong gió, ta gặp cơ man những vườn cây ăn quả đặc màu trung du; đi lên vùng Huyện Nựu, Còi, Đá Sập lại thấy đỏ ngây ngất những vườn quýt làm ấm bầu trời mùa đông heo may gió lạnh…
Mặt trời gác núi, bóng lèn đổ xuống dòng sông lấp lánh ánh vàng trong ngọn gió nồm mát rượi. Con thuyền đã cắm nơi bến nước nhà tôi từ bao giờ, lúc chúng tôi đến, đã thấy như từng có con thuyền neo đậu bên mé nước cả ngàn năm nay. Trên thuyền lúc đó đã sẵn người, vài ông ngồi ngoài khoang uống nước, vài bà ngồi bên trong, lưng dựa vách nhai trầu. Ấy là các bà bao giờ cũng chu đáo, kĩ tính, bởi không kiếm chỗ trước, khi đông người, thì còn đâu vị trí ngon lành để lênh đênh trên thuyền suốt đêm dài ngủ gà ngủ gật.
Tôi và mẹ tôi bước lên cầu thuyền, một tấm ván mòn nhẵn bước chân một đầu đặt trên bãi cát, một đầu gác lên be thuyền. Con thuyền cứ neo đợi khách cho tận hoàng hôn, rồi người chủ thuyền nhổ sào, hạ chèo, thuyền trôi dần ra giữa dòng sông. Người đàn ông chèo lái, người đàn bà chèo mũi, đúng với cung cách chèo lái con thuyền đời trong một gia đình. Trời tối dần, gió thổi ngược chiều lùa vào tận mọi ngõ ngách trong lòng thuyền trong tiếng chèo khua nước chầm chậm, nhịp nhàng.
Ngồi trong thuyền, tôi đếm từng nhịp chèo, cứ nghĩ vẩn vơ xem thử mấy ngàn vạn nhịp thì đến Chợ Đồn, và hết đêm, trời hửng sáng. Ôi, tuổi thơ vời vợi xa xăm xuôi dòng sông quê trên những con thuyền chèo, rồi ngủ say trong hơi ấm mẹ hiền trong đêm yên tĩnh của trăng lên… Cũng không còn nhớ bao nhiêu đêm trên dòng sông quê, tôi say ngắm ánh trăng, phải thật lâu sau này, khi đã khôn lớn, từng trải, mới thấy trăng trên sông thật đẹp. Trong ánh đêm mờ tỏ, trong tiếng chèo khua lóc bóc, nhịp nhàng, trong cái dãi dề lênh láng của màn sáng bạc trên mặt nước lung linh và trong chút se lạnh dưới trời khuya mới cảm nhận hết trăng trong vẻ đẹp và nét buồn của nó, và cũng hiểu tại sao hồn thi sĩ lại gần trăng hơn ai hết.
Đêm đã khá khuya, song tôi vẫn chưa ngủ. Tôi luôn hỏi mẹ đến chỗ nào rồi, dù tôi đâu có biết những địa danh mẹ tôi nhắc tới, có những cái tên nghe sang lắm, như Lệ Sơn, Cồn Rồng, Hoà Ninh đầy chất văn chương, lại có cái tên rặt một màu ngôn ngữ Chàm, như Lò Độôc, Cồn Niệt, Kẻ Hác (cũng như Bù lu Kịn, Thác Nậy ở vùng thượng nguồn). Những tên làng thân thuộc ấy sống mãi trong tâm trí tôi đến tận bây giờ, dù ngày nay đã thay bằng tên mới.
Thuyền xuôi về một vùng sông trăng, mênh mông, trong ánh mờ của đêm ta vẫn cảm nhận được cái khoáng đạt của gió và tiếng sóng to dần. Tôi gục đầu vào gối mẹ, thiu thiu. Mẹ tôi vỗ vỗ vào vai tôi, bảo:
- Con có biết đò đến nơi nào rồi không?
Dĩ nhiên tôi làm sao biết. Mẹ tôi chỉ vào bóng đêm nói nho nhỏ:

- Làng của ông mệ ngoại con đó tề.
Nghe thế, tôi chồm dậy, đưa mắt theo hướng mẹ chỉ. Thì ra Cồn Quan là đây, đó là một làng đảo bởi dòng sông Gianh đoạn này rẽ làm hai, một bên là làng Tiên Lễ, một bên là làng Tiên Lang. Trong bóng đêm mờ ảo, tôi thấy những ngọn lửa đèn dưới những tàng cây lúp xúp, một cái tháp chuông nhà thờ bên bờ sông, vài cái chòi rớ…Thủa bé, tôi từng về quê ngoại, và những ấn tượng ban đầu sẽ không phai mờ cho đến mãi sau này. Ngôi nhà ông ngoại tôi thuộc loại to nhất vùng, có tường xây, có căn gác có cái cầu thang gỗ lim…Ông tôi làm thuốc bắc, con cái học hành đến nơi cả, chỉ riêng mẹ tôi chịu thiệt thòi theo nếp xưa ,con gái lớn lên học nghề canh cửi rồi đi lấy chồng! Tôi viết lách nhì nhằng lắm thứ, vẫn đau đáu nghĩ suy về quê ngoại, nhưng chưa trang viết nào nên hồn, trở thành món nợ day dứt cả đời!
Bất cứ dòng sông nào nếu đi ra biển, bao giờ cũng có nơi chung đụng giữa hai con nước, là nước mặn và nước ngọt, dân gian gọi là nước lợ. Đó là vùng nước thay đổi theo mùa, thường mùa mưa đẩy lùi nước mặn xuống, mùa khô nước mặn dâng cao, lại còn theo con nước xuống lên, cũng tình trạng ấy. Sông Gianh, vùng nước lợ độ khoảng làng Tiên Lễ là trung tâm, từ đó xuống lên theo mùa, theo con trăng và con nước. Cá tôm nước lợ ngon nhất, đó cũng là vùng nhiều giống thuỷ sản nhất trên sông…Thuyền về đến đây, ta ngửi thấy mùi tanh của những bãi bần đang rút nước xuống để trơ những vùng sình lầy phơi ra những vỏ hàu, vỏ hến, đặc biệt là vỏ chắt chắt, không biết nơi khác gọi là gì, tôi chưa đọc thấy, nhưng gọi là chắt thì đúng quá, vì nó bé tí. Có lẽ chưa ai viết về cái con vật nhỏ tí hin mà cực ngon này? Nhớ ngày nhỏ thỉnh thoảng được một bữa canh chắt chắt nấu với mít non, lá lốt băm nhỏ giữa trưa hè nóng bức bảo đảm ngon hơn gì hết…Trong bóng trăng đang nhạt dần, trong ảo mờ và âm u của trùng đêm, ta nghe rõ tiếng khua chèo, tiếng sóng lúc một to và gió sông lồng lộng; bóng người lái đò lặng lẽ gập xuống ngẫng lên chầm chầm, đều đều nhịp đời sông nước xa xưa ngày nay không còn nữa.
Xa xa hai bên bờ sông nghe rõ dần tiếng gõ chài đuổi cá. Vậy là con nước bắt đầu lên, đó là lúc các loài cá tôm theo con nước vào bờ tìm cái ăn ở các bãi bến. Cái tiếng gõ chài ấy cũng là dấu ấn một thời nay đố ai còn nghe thấy, nó lang canh, thưa thớt rồi dồn dập như sóng như gió vào lúc cao trào, đấy là một khúc hoà tấu hoàn hảo của một dàn bộ gõ nhiều âm sắc rất vang động. Trong thuyền, im ắng bao trùm, chỉ đâu đó lập loè ánh lửa từ một điếu thuốc vấn, một vài tiếng ngáy ngủ…Tôi cũng bỏ nước bỏ trăng, vùi mình bên cạnh mẹ trong giấc ngủ say.
Lang thang một buổi sáng, thức tròn một buổi trưa với Chợ Đồn chật chội, ồn ào rồi con thuyền lại chở những người đi ăn chợ trở lên vùng trên. Đầy sông là những cánh buồm, rất nhiều màu sắc, nhiều hình dáng, kích cỡ, cái thong thả, cái như vội vàng, tất cả đều hứng ngọn gió nồm lồng lộng no tròn, căng những sợi dây neo. Tôi ra đầu mũi thuyền ngồi, căng mắt nhìn không chán. Chiếc thuyền tôi đang đi cũng đã căng buồm từ bao giờ không rõ. Một cánh buồm nâu giang rộng ngự trên đầu tôi, nghe rõ tiếng reo phần phật. Con thuyền chòng chành khi gặp gió to, sóng chồm lên táp lên mạn thuyền, rồi đó, nó lại lao đi hình như nhanh hơn…
Tôi vô cùng thích thú trước phong cảnh như tranh vẽ từ núi non, cây cối, thôn làng, bến nước vùng hạ lưu thoai thoải, mênh mang, đi lên vùng trung lưu bờ dốc dần lên hai bên, và càng đi lên phía thượng nguồn dòng sông càng thu hẹp lại giữa đôi bờ cao thăm thẳm. Từ bên triền sông, thảng hoặc ta lại gặp một cánh diều vút bay cao, một ngọn khói xanh vằn vèo bay lên, có thể khói đốt rơm rạ, khói xảm thuyền, cái ngọn khói ấy như đã có tự bao đời nay, bên bờ sông ấy, đúng cái nơi ấy, cứ chiều chiều lại vương vấn bay lên tựa một nét hoa văn…
Bây giờ ngồi nhớ lại dòng sông quê trong hồi tưởng, tôi thấy se lòng trước rất nhiều thay đổi. Dĩ nhiên, công cuộc đổi mới đã mang lại cuộc sống văn minh hơn, no đủ hơn, tốc độ hơn, nhưng lại mất đi nhiều kỉ niệm, mà con người ta, không có kỉ niệm ở đời, cũng nghèo tâm hồn đi nhiều lắm. Đời mỗi người lẽ nào lại thiếu vắng tấm lòng mẹ, và một thôn làng, một dòng sông, và những cánh buồm? Với tôi, từng có tất cả và tất cả nay đã xa mờ: người mẹ vô vàn thương yêu đã về theo tiên tổ, mảnh làng quê và dòng sông tuổi thơ đã biến mất trong di biến đổi dời, và những cánh buồm trên dòng sông quê một thời nay không còn nữa, đã tan tác trong lòng biết bao thế hệ người dân lớn lên bên đôi bờ con sông chảy phía trước nhà!…Năm kia, tôi cùng mấy nhà văn dong thuyền đi dọc hết con sông Son, sau đó lại đi lên thượng nguồn dòng sông Gianh trong cảm thức vui buồn lẫn lộn: những dấu vết cuộc sống ngày xưa thương mến đã biến mất, trong đó có sự biến mất những cánh buồm thắm đỏ, những cánh buồm trắng, những cánh buồm nâu thong thả lướt đi trong êm đềm thơ mộng! Những cánh buồm hay những mảnh hồn? Tôi chợt nhớ câu thơ tài hoa của nhà thơ Tế Hanh “Cánh buồm dương to như mảnh hồn làng”, bỗng bâng khuâng nhớ về dòng sông Gianh những chiều nồm lồng lộng buồm lên phơi phới, và giờ đây thay vào đó là tiếng máy nổ vô hồn đưa những con thuyền xuôi ngược. Dòng sông, cũng quá nhiều thay đổi; nhiều đoạn nông sờ, rong rêu, những lồng cá nuôi đục nước, và tanh nồng. Làng xóm ven bờ cũng không như xưa trong nét trầm mặc nghìn năm; những ngọn núi đá cao vút,thơ mộng đang bị khai thác trong tiếng mìn nổ và bụi mù che phủ bầu trời. Đâu còn bóng những hòn lèn đẹp màu men sứ tranh thuỷ mặc lấp loáng trên dòng Gianh biếc nắng. Đâu rồi chiều cố hương núi xanh sắc núi trời xanh sắc trời, có mẹ già ra sông gánh nước, bóng mẹ lồng bóng sông khảm vào lòng con!…
Bây giờ không còn ý niệm đò dọc trên dòng sông quê nữa, nó thuộc về quá vãng, những con thuyền chèo tay, những anh Mẹt, chị Cu, những bác trai bác gái ngái ngủ chèo thuyền với hai bàn chân choãi ngón không còn nữa, rất nhiều người đã quên hẳn, rất nhiều người chưa từng biết đến, tuy vậy, cũng nhiều người thỉnh thoảng ngồi nhớ lại trong tâm trạng bâng khuâng.
Đi dọc sông Gianh – những ai sinh vào thời máy tính nối mạng, di động cầm tay, hãy tin rằng từng có một thời xa xưa có những chuyến đò dọc xuống lên dòng sông này với những bàn tay chèo chống và buồm căng giữa chậm rãi nhịp đời, lại mong rằng những ai từng biết đến, từng cảm nhận hãy giữ gìn trong tìm thức để dòng sông thân yêu ấy có hiện tại và quá khứ khiến nó thêm giàu sức sống trong lòng những con dân lớn lên, sinh sống ở đôi bờ, nhất là với bao người từ đó đi xa..


http://hoangkimvietnam.wordpress.com/2011/12/17/do-d%E1%BB%8Dc-song-gianh/