Thứ Năm, 9 tháng 2, 2012

THI HÀNH CÔNG VỤ HAY HÀNH ĐỘNG VI HIẾN


HOÀNG XUÂN PHÚ: NHÂN VỤ TIÊN LÃNG, BÀN VỀ CÔNG VỤ


Nhân vụ Tiên Lãng bàn về công vụ
Hoàng Xuân Phú

Tiếng nổ ở Tiên Lãng ngày 5/1/2012 đã làm chấn động bốn phương, quá đủ để thức tỉnh những ai còn có thể thức tỉnh. Nó buộc những người có lương tri phải suy nghĩ, để trả lời câu hỏi: Vì sao lại có kết cục bi thảm như vậy? Sẽ còn bi thảm hơn nếu những người cầm quyền không rút ra bài học hợp lý để xử lý đúng vụ này.

Một số người đòi nghiêm khắc xử lý ông Đoàn Văn Vươn và những người liên quan về tội chống người thi hành công vụ. Nhiều người tin rằng gia đình ông Vươn là nạn nhân của cường hào ác bá thời nay, nhưng cũng nghĩ là họ không thể tránh khỏi bị trừng phạt vì đã chống người thi hành công vụ. Ngày 10/1/2012 Viện Kiểm sát Nhân dân Thành phố Hải Phòng đã phê chuẩn quyết định của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hải Phòng, khởi tố bị can đối với ông Đoàn Văn Vươn và 3 người thân về tội giết người, đồng thời khởi tố vợ và em dâu ông Vươn về tội chống người thi hành công vụ

Hai tiếng "công vụ" cứ lặp lại, vang lên như tiếng chuông dồn dập trong buổi chiều tà, khi cái ác hoành hành, nhân danh công vụ để ức hiếp dân lành, khiến tâm hồn bất an, lương tri bứt rứt. Vì vậy tôi phải gạt bao việc cần kíp sang một bên để viết bài này.

Công vụ hay mạo danh công vụ?
Công vụ là gì? Bách khoa toàn thư mở Wikipedia viết rằng:
"Công vụ là một hoạt động do công chức nhân danh nhà nước thực hiện theo quy định của pháp luật và được pháp luật bảo vệ nhằm phục vụ lợi ích của nhân dân và xã hội." 

Nội dung này cũng phù hợp với cách giải nghĩa trong Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam.
Rõ ràng, công vụ phải là việc công, do công chức nhân danh nhà nước thực hiện. Nếu lợi dụng chức quyền để triển khai những việc nhằm trục lợi cho bản thân, không nhằm phục vụ lợi ích của nhân dân và xã hội, thì không thể ngụy biện là công vụ. Những kẻ nhân danh chính quyền để chiếm đất của dân rồi giao cho người khác để kiếm chác những khoản tiền tham nhũng, thì không còn đủ tư cách xưng danh công chức để ra lệnh hay thi hành công vụ.

Công vụ phải có lý do rõ ràng và minh bạch. Lấy đất của dân, lúc thì bảo là do hết hạn thuê, lúc thì viện cớ xây dựng sân bay, lúc lại ngụy biện là để đảm bảo công bằng. Mỗi lúc tung ra một lý do khác nhau, để che dấu cái mục đích xấu xa, thì chỉ thể hiện thói dối trá đã ăn sâu vào xương tủy, đã di căn từ đầu đến chân, chứ không thể biện hộ được lý do công vụ.

Công vụ thì phải chính danh, phải có những người đủ thẩm quyền ra lệnh, thi hành và chịu trách nhiệm. Phá nhà của dân, rồi trơ trẽn vu khống cho nhân dân bức xúc nên phá, thì không thể gọi là chính danh. Việc cho công chức giả danh dân thường hoặc huy động thành phần bất hảo để giải tán biểu tình, ngăn cản khiếu kiện hay đàn áp ai đó là không chính danh. Việc dùng một thông báo không ai dám ký làm bình phong để đàn áp người biểu tình yêu nước là không chính danh. Công an mặc thường phục để rình bắt những người vi phạm quy tắc giao thông cũng không chính danh. Đang lái xe trên đường, thấy người mặc thường phục rượt đuổi, thì lấy gì để đảm bảo rằng đấy không phải là cướp? Ngay cả trong trang phục công an còn khó phân biệt được kẻ xấu, người ngay, huống chi là mặc thường phục. Vậy mà lại bắn vào đùi người đi đường chỉ vì không chịu dừng xe (theo đòi hỏi của công an giả dân), thật là ngang ngược hết mức. 

Thi hành công vụ thì phải thực hiện đúng mục tiêu. Quyết định thu hồi đất một nơi, lực lượng cưỡng chế lại tiến vào hành sự trên một mảnh đất khác, hoàn toàn không nằm trong khu vực bị thu hồi, và đập phá nhà dân trên diện tích ấy. Đó là xâm phạm và phá hoại tài sản hợp pháp của công dân. Không chỉ phá hoại, một khi người tham gia cưỡng chế đã vơ vét đồ đạc, Xã đội phó cuỗm cả cái ổn áp, thì phải gọi là cướp bóc. Chẳng nhẽ công vụ là vậy sao? Nếu người nhà ông Vươn đuổi theo vị Xã đội phó và giật lại cái ổn áp, thì sẽ bị buộc cho tội chống người thi hành công vụ chăng?

Điều tiên quyết là công vụ chỉ được thực hiện theo quy định của pháp luật. Về vụ Tiên Lãng, đã có rất nhiều bài viết chỉ ra việc chính quyền địa phương quyết định thu hồi đất và tiến hành cưỡng chế đối với gia đình ông  Đoàn Văn Vươn trái pháp luật. Đặc biệt, Nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh đã đánh giá: 

"Tôi đang theo dõi sát vụ việc này nên có thể khẳng định chính quyền sai từ xã đến huyện. Điểm sai đầu tiên là để sự việc kéo dài quá nhiều năm mà không xử lý đến nơi đến chốn và thấu tình đạt lý. Người làm được, làm tốt đáng lẽ phải động viên, tạo điều kiện nhưng lại cố thu hồi của người ta, đó là cái sai thứ hai. Việc thu hồi còn trái pháp luật là cái sai thứ ba. Cái sai thứ tư là chính quyền cố tình vi phạm luật pháp, dồn người dân vào chân tường, làm họ uất ức đến mức phải chống lại."

Thiết tưởng không cần phải bổ sung thêm gì nữa. Một hoạt động, cho dù của ai, cho dù ở cấp nào, mà vi phạm pháp luật, thì tự nó đã tước bỏ chính danh của công vụ.

Vụ cưỡng chế ở Tiên Lãng vi phạm tất cả những tiêu chí kể trên, nên không thể xem là một công vụ theo nghĩa tử tế. Nó đẩy chính quyền đứng trước hai lựa chọn. Nếu coi nó là một công vụ thì sẽ phải trả lời cho nhân dân câu hỏi: Tại sao chính quyền này lại có loại công vụ tệ hại, ức hiếp người dân như vậy? Nếu không coi nó là một công vụ thì cũng không thể buộc cho ông Đoàn Văn Vươn và người thân vào tội chống người thi hành công vụ, mà phải nghiêm trị những kẻ mạo danh công vụ để trục lợi, hại dân và bôi nhọ công vụ.

Thi hành công vụ hay tòng phạm việc xấu?
Bình thường, đã là công chức thì phải thực hiện nhiệm vụ được lãnh đạo phân công. Là công an, bộ đội thì lại càng phải tuân theo mệnh lệnh của chỉ huy. Kỷ luật ấy là điều kiện cần thiết để một chính quyền có thể vận hành trôi chảy. 

Nếu có thể yên tâm rằng mọi nhiệm vụ đều hợp lý, mọi mệnh lệnh đều đúng đắn, thì người thi hành chỉ còn phải lo hoàn thành nhiệm vụ được giao. Nhưng lấy đâu ra cái yên tâm ấy giữa thời buổi tham nhũng tràn lan, trở thành quốc nạn, việc lớn việc nhỏ bị chi phối bởi các nhóm lợi ích? Khi môi trường bị ô nhiễm trầm trọng thì không thể ngây ngô tin rằng mọi giọt nước từ trên trời rơi xuống đều trong sạch; ngược lại, phải ý thức rằng nước trời có thể chứa đầy độc tố. Khi trên đầu có cả "một bầy sâu" (theo cách nói của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang) thì công chức có thể phải tiếp nhận cả những nhiệm vụ xấu xa, những mệnh lệnh sai trái.

Với những người a dua, mong được theo đóm ăn tàn, hay những kẻ chờ dịp để thỏa máu côn đồ, vốn dĩ bị kìm nén bởi địa vị công tác, như kẻ đã đạp vào mặt người biểu tình yêu nước, thì chẳng có gì khiến họ phải lăn tăn. Nhưng với những công chức mẫn cán, những sĩ quan và chiến sĩ một mực trung thành, thì hoàn cảnh trớ trêu ấy đẩy họ rơi vào tình thế khó xử. Không tuân lệnh thì vi phạm kỷ luật và băn khoăn về trách nhiệm. Mà tuân lệnh thì lại bứt rứt lương tâm, nhất là khi phải tham gia làm hại người lành. Cuối cùng thì quyền lợi bản thân thường là trọng lượng quyết định làm lệch cán cân do dự. Liều thuốc an thần hay được dùng để tự an ủi là mình chỉ làm theo phận sự, buộc phải tuân lệnh, và nếu sai thì người ra lệnh phải chịu trách nhiệm chứ không phải người thi hành… 

Tiếc rằng liều thuốc ấy không đủ để gột bỏ trách nhiệm của những người tham gia vào những việc sai trái. Khi người ta sai anh làm một việc xấu xa, ví dụ như việc dùng vòi cứu hỏa phun nước thải vào người dân để giải tỏa chợ, mà anh vẫn làm, thì anh sẽ bị nhân dân nguyền rủa và gia đình anh sẽ không biết trốn đi đâu để thoát khỏi nỗi nhục nhã.

Trong hoàn cảnh ô nhiễm, cần tỉnh táo suy xét, xem cái việc mình phải thực hiện có thể coi là công vụ chân chính hay không? Việc đó xuất phát từ lý do gì? Phục vụ ai và có hại cho ai? Điều đó có chính đáng hay không? Người thi hành công vụ trước hết phải là Người, tức là phải biết tư duy, biết phân biệt phải trái... Không thể hành động một cách mù quáng, với tư duy nô lệ, theo kiểu lính đánh thuê, rằng ai trả tiền cho tôi thì tôi tuân lệnh người đó. Nếu biết rõ là việc xấu mà vẫn làm thì là tòng phạm, không thể ngụy biện là thi hành công vụ.

Điều quan trọng là phải xét xem nhiệm vụ được giao có hợp pháp hay không. Khi phát hiện ra nhiệm vụ phải thực hiện hay mệnh lệnh phải tuân theo vi phạm Hiến pháp, pháp luật, thì mọi công dân có quyền không chấp hành và có trách nhiệm đấu tranh chống lại vi phạm ấy, theo đúng quy định trong Điều 12 của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992:
"Các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp, pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống các tội phạm, các vi phạm Hiến pháp và pháp luật."

Rõ ràng, nếu có quy định buộc một loại công dân nào đó (kể cả công chức, sĩ quan và chiến sĩ trong lực lượng công an hay quân đội) phải chấp hành cả những mệnh lệnh tiến hành công vụ vi phạm Hiến pháp, pháp luật, thì quy định ấy vi phạm Điều 12 của Hiến pháp hiện hành, và hiển nhiên nó phải bị hủy bỏ.

Tiếc rằng, có cả cán bộ, chiến sĩ quân đội tham gia cưỡng chế gia đình ông Đoàn Văn Vươn, trong khi Hiến pháp năm 1992 xác định nhiệm vụ của quân đội là bảo vệ Tổ quốc, chống ngoại xâm (Điều 46) và nhiệm vụ của công an mới là bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội… (Điều 47). Tức là các cán bộ, chiến sĩ ấy đã vượt khỏi khuôn khổ hoạt động của quân đội được quy định trong Hiến pháp hiện hành. Đây là một vi phạm Hiến pháp nghiêm trọng, mang tính nguyên tắc. Không thể biện hộ là do thiếu hiểu biết, vì đó là kiến thức pháp luật tối thiểu và Luật số 16/1999/QH10 về sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam đã quy định là sĩ quan phải có trình độ về pháp luật (Điều 12). Một khi tham gia vào chuyện không được Hiến pháp cho phép thì không thể quan niệm là các sĩ quan và chiến sĩ quân đội đã thi hành công vụ, và nếu quả thật cuộc cưỡng chế gia đình ông Vươn là sai trái thì họ đã trở thành tòng phạm trong một vụ việc xấu. Khi đó, nếu có bị thương thì cũng nên ráng chịu, thay vì oán trách những người bị dồn vào bước đường cùng. 

Kể cả trong trường hợp có vẻ như không vi phạm pháp luật hiện hành thì người công chức cũng nên thận trọng xem xét khía cạnh đạo lý của nhiệm vụ được giao. Đừng ỷ vào hai chữ "công vụ" và vị thế "thi hành mệnh lệnh" mà cho rằng chúng đủ để bảo vệ mình vĩnh viễn. Biết bao sĩ quan và binh sĩ của chế độ cũ đã bị giam vào trại cải tạo nhiều năm, mặc dù họ có thể biện minh rằng họ chỉ thi hành mệnh lệnh theo đúng nghĩa vụ của người lính và hành động của họ phù hợp với pháp luật của chế độ cũ.

Càng trung thành với chế độ thì càng phải ý thức rằng: Trong số những mệnh lệnh, nhiệm vụ mà mình tiếp nhận, có thể có những cái mà hệ quả của chúng là bôi nhọ và phá chế độ. Vụ cưỡng chế gia đình ông Đoàn Văn Vươn là một trong rất nhiều trường hợp như vậy. Trung tướng Nguyễn Quốc Thước nhận định rằng:
"… rõ ràng vụ việc Tiên Lãng là một tổn thất chính trị lớn cho uy tín của các cấp ủy và chính quyền Hải Phòng và ảnh hưởng xấu đến cả nước."

Cho nên, nếu cứ mù quáng chấp hành mọi mệnh lệnh sai trái thì sẽ có tội với chính chế độ mà mình đang phụng sự.

Phán xét cuối cùng không phải lời vàng ý ngọc của lãnh đạo, cũng không phải là phán xử của tòa án, mà thuộc về nhân dân, thuộc về lịch sử. Nếu tham gia vào chuyện bất nghĩa, thất đức, thì vỏ bọc công vụ sẽ không đủ để che chở trước sự lên án của nhân dân và sự phán xét của lịch sử.

Tội chống người thi hành công vụ
Chế độ nào cũng có trách nhiệm bảo vệ người thi hành công vụ. Chế độ này cũng rất tích cực trong việc ấy, thậm chí là trên cả mức hợp lý. Khi có va chạm, xung đột, thì tội của những người thuộc bộ máy chính quyền hay được nương nhẹ, thậm chí được bao che, còn tội của dân thường thì bị nghiêm trị, nhiều khi nghiêm hơn cả mức cần thiết. Kiểu cư xử không công bằng, quá nuông chiều người của chính quyền, đồng thời coi nhẹ dân thường, khiến nhiều công chức, công an ngày càng trở nên quá trớn, hay lợi dụng lý do công vụ để làm chuyện bất minh. Bức xúc dồn nén, dẫn đến hành động chống người thi hành công vụ ngày càng gia tăng, đó cũng là quy luật.

Khi công vụ được thi hành một cách đúng đắn thì người chống lại cần bị trừng phạt. Nhưng khi công vụ được thực hiện không đúng với quy định của pháp luật thì không thể đòi hỏi người dân phải im lặng chấp thuận, và không thể đơn giản kết tội chống đối nếu người dân có phản ứng tự vệ.

Bộ luật hình sự của nước Đức được ban hành vào năm 1871, với tội chống người thi hành công vụ được quy định ở Điều 113, trong đó viết rõ điều kiện áp dụng là công vụ được thực hiện đúng pháp luật (rechtmäßige Ausübung). Tức là không thể mặc nhiên kết tội này cho người chống lại nếu công vụ được thực hiện sai pháp luật. Điều kiện "thực hiện đúng pháp luật" được duy trì trong Điều 113 suốt 98 năm, "sống sót" qua 4 lần chỉnh sửa Bộ luật hình sự, kể cả lần chỉnh sửa vào năm 1943 dưới thời phát xít. Đó là một yếu tố pháp lý quan trọng để bảo vệ người dân trước khả năng lạm dụng quyền lực của bộ máy công quyền. Chưa yên tâm với điều kiện đó, năm 1970 các nhà lập pháp Cộng hòa Liên bang Đức đã thay nó bằng một điều khoản rõ ràng hơn, có tác dụng bảo vệ người dân triệt để hơn, đó là:
"Hành động (chống người thi hành công vụ) không thể bị xử phạt theo quy định này (tức là quy định trong Điều 113) nếu việc thực hiện công vụ không đúng pháp luật."
Bộ luật hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội thông qua năm 1985 (trong đó tội chống người thi hành công vụ được quy định ở Điều 205) và được sửa đổi, bổ sung 4 lần trong các năm 1989, 1991, 19921997. Năm 1999 Quốc hội thông qua Bộ luật hình sự mới (trong đó tội chống người thi hành công vụ được quy định ở Điều 257) và nó đã được sửa đổi, bổ sung vào năm 2009. Trong cả hai lần ban hành và qua 5 lần chỉnh sửa Bộ luật hình sự, điều về tội chống người thi hành công vụ chỉ quy định một chiều về việc xử phạt đối với những người chống người thi hành công vụ, mà không nhắc đến điều kiện công vụ phải được "thực hiện đúng pháp luật", lại càng không có khoản nào để bảo vệ dân oan, buộc phải tự vệ trước hành động vi phạm pháp luật của người mang danh thi hành công vụ. Xét về phương diện này thì B lut hình s hin hành ca Vit Nam không bằng B lut hình s ca Đc ra đi cách đây 141 năm, chỉ 4 tháng sau khi Đế chế Đc (Deutsches Kaiserreich, 1871-1918) được thành lập.

Khiếm khuyết này của Bộ luật hình sự khiến các "con trời" càng dễ ngộ nhận và tùy tiện chụp lên đầu người dân tội chống người thi hành công vụ. Bị công an đánh mà giơ tay che chắn theo phản xạ tự nhiên cũng có thể bị ghép cho tội ấy. Một số công an không mặc quân phục, không xuất trình giấy tờ chứng minh tư cách công an, nhưng nếu người dân nghi ngờ và không tuân theo đòi hỏi của họ, thì họ cũng có thể nổi nóng, vu cho người dân tội chống đối. Trong vụ Tiên Lãng, khi xảy ra đụng độ, bà Nguyễn Thị Thương (vợ ông Vươn) và bà Phạm Thị Báu (tức Hiền, vợ ông Quý) đứng trên đê, từ xa nhìn lại. Vậy mà hai người phụ nữ yếu ớt ấy lại bị khởi tố về tội chống người thi hành công vụ

Dù xã hội văn minh đến đâu thì cũng vẫn xảy ra việc người thi hành công vụ vô tình hay cố ý vi phạm pháp luật, khiến người dân phải tự vệ một cách chính đáng. Cho nên, những quy định pháp lý như trong Bộ luật hình sự của Đức để bảo vệ người dân trước khả năng công quyền bị lạm dụng là thực sự cần thiết. Ở Việt Nam, khi mà sự tha hóa và tham nhũng đã làm ô nhiễm bộ máy công quyền, công chức quá thiếu hiểu biết về pháp luật, tòa án hay xét xử tùy tiện, thì những quy định để bảo vệ dân oan lại càng bức thiết. Rõ ràng, các nhà lập pháp đang nợ nhân dân việc sửa đổi Điều 257 (về tội chống người thi hành công vụ) của Bộ luật hình sự hiện hành, để đáp ứng đòi hỏi cấp bách của cuộc sống.

Ngay cả với quy định hiện nay của Bộ luật hình sự thì cũng không thể đơn giản buộc cho những người trong gia đình họ Đoàn tội chống người thi hành công vụ, nếu không chứng minh được rằng việc cưỡng chế là một công vụ đúng đắn, được thi hành theo đúng quy định của pháp luật, và mọi người được huy động đều có đủ tư cách pháp lý để tham gia. Khi quyết định thu hồi đất là sai thì việc cưỡng chế cũng sai. Cho dù coi quyết định thu hồi đất của gia đình ông Đoàn Văn Vươn là đúng, thì việc lực lượng cưỡng chế có trang bị vũ khí hiện đại tự tiện tiến vào khu đất không thuộc diện thu hồi và phá hủy ngôi nhà của ông Đoàn Văn Quý nằm trên mảnh đất đó là hoàn toàn sai. 

Theo Quyết định thu hồi số 461/QĐ-UBNDQuyết đnh cưng chế s 3307/QĐ-UBND của UBND huyện Tiên Lãng thì phạm vi cưỡng chế chỉ là 19,3 ha đã được giao cho gia đình ông Vươn theo Quyết định số 220/QĐ-UBND. Những người họ Đoàn không hề có mặt trên diện tích 19,3 ha ấy, không cản đường vào khu vực ấy, nên không thể nói là họ chống lại lực lượng cưỡng chế, nếu lực lượng này chỉ tiến hành cưỡng chế theo đúng Quyết định số 3307/QĐ-UBND. Anh em họ Đoàn chỉ ở trong nhà của mình, trên mảnh đất hợp pháp của mình, vì vậy họ có quyền tự vệ nếu có người tấn công họ. 

Mục tiêu thực sự của cuộc cưỡng chế ở Tiên Lãng ngày 5/1/2012 là gì? Hãy xem An ninh Thủ đô 5/1/2012 tường thuật:
"Trước đó vào lúc 7 giờ 30, đoàn công tác của UBND huyện Tiên Lãng gồm hơn 100 CBCS Công an, quân đội và Bộ đội Biên phòng và đại diện các ban ngành chức năng tổ chức cưỡng chế diện tích đất hơn 50 ha đầm nuôi trồng thủy sản, trồng cây ăn quả tại vùng bãi bồi ven của Đoàn Văn Vươn (SN 1960) đã đấu thầu nhiều năm nhưng đến nay đã hết hạn không chịu đóng thuế trong thời gian dài."
"Để đảm bảo an toàn cho đoàn công tác cưỡng chế, một tổ công tác bí mật tiếp cận ngôi nhà của Vươn xây dựng trên diện tích đất này thì bất ngờ một quả mìn tự chế phát nổ hất văng 2 CBSC công an huyện Tiên Lãng làm bất tỉnh tại chỗ nhưng rất may là không gây thương vong."
"... khi tổ công tác vừa áp sát ngôi nhà thì bất ngờ từ trong nhà Vươn cùng người nhà chĩa súng bắn đạn hoa cải liên tiếp nhả đạn vào lực lượng chức năng, làm 4 Cán bộ chiến sỹ Công an và một số cán bộ chiến sỹ quân đội bị thương."

Như vậy, ngay từ đầu người ta đã định cưỡng đoạt toàn bộ diện tích đất mà gia đình ông Đoàn Văn Vươn đang sử dụng (tức bao gồm cả 21 ha không có quyết định thu hồi). Điều này cũng được Chủ tịch UBND huyện Tiên Lãng Lê Văn Hiền đề cập trong cuộc họp báo chiều ngày 5/1/2012. Hơn nữa, lực lượng vũ trang đã chủ động tiếp cận ngôi nhà của ông Đoàn Văn Quý (mà An ninh Thủ đô gọi là "ngôi nhà của Vươn"), nằm trên diện tích 21 ha không thuộc diện thu hồi. Có nghĩa là ngôi nhà vô can và hợp pháp ấy đã bị xác định là mục tiêu tấn công, trước khi người nhà họ Đoàn có bất cứ biểu hiện chống đối nào. Chỉ khi lực lượng vũ trang tiếp cận ngôi nhà của ông Quý thì quả mìn mới phát nổ và sau đó, khi lực lượng ấy lại áp sát ngôi nhà thì đạn hoa cải mới bắn ra.

Làm sao có thể biện minh được việc huy động lực lượng công an và quân đội để tấn công vào nhà đất hợp pháp của công dân như vậy? Chuyện "không chịu đóng thuế trong thời gian dài" được đưa ra không chỉ để bổ sung thêm tội, mà có lẽ để biện hộ cho việc chiếm cả diện tích 21 ha chưa hết hạn cho thuê. Cái mẹo không chịu nhận tiền thuế của dân để sau này dễ bề "gây sự" đã trở thành kinh điển từ lâu. Có điều, dân đóng thuế thì không chịu nhận, rồi lại vu cho dân không chịu đóng thuế, thì quá vô liêm xỉ.

Nếu lực lượng cưỡng chế chỉ tới diện tích 19,3 ha ghi trong Quyết định thu hồi số 461/QĐ-UBND và Quyết định cưỡng chế số 3307/QĐ-UBND, không tùy tiện tiến vào khu vực 21 ha mà quyền quản lý và sử dụng hợp pháp hoàn toàn thuộc về anh em họ Đoàn, không tiếp cận ngôi nhà của ông Quý, thì mìn đã không nổ, súng đã không bắn và do đó không có ai bị thương cả. Vậy thì, nói cho cùng, ai mới là người phải chịu trách nhiệm về việc 4 cán bộ, chiến sĩ công an và 2 cán bộ quân đội bị thương? Nếu có tội giết người trong vụ này, thì ai mới là người phải chịu tội ấy?

Giả sử công vụ không vi phạm pháp luật hiện hành, thì khi phán xét về tội chống người thi hành công vụ cũng không thể bỏ qua khía cạnh đạo lý. Vâng, có một thứ cao hơn cả pháp luật, bền hơn cả chế độ, đó là đạo lý. Đất đã giao cho dân sử dụng bao nhiêu năm nay, dân đã đổ biết bao công sức và tiền của để cải tạo và gây dựng, bây giờ chính quyền thu hồi mà không bồi thường, rồi giao cho cá nhân khác, thì chẳng đạo lý nào chấp nhận được.

Trước khi lên án một hành động chống người thi hành công vụ thì nên lưu ý là tội này không phải là một phạm trù tuyệt đối, không phải là vĩnh cửu. Trên cương vị cầm quyền thì thấy hành động chống người thi hành công vụ rõ ràng là một tội cần bị trừng trị nghiêm khắc, không thể bàn cãi. Nhưng nếu chịu khó lục lại trí nhớ, quay về thuở còn đang tìm cách giành chính quyền bằng bạo lực, sẽ thấy thời ấy quân ta cũng đã từng chống người thi hành công vụgiết người thi hành công vụ của chế độ cũ. 

Những tiếng nổ tuyệt vọng làm cộng đồng tỉnh giấc, nhưng cũng làm tan nát một đại gia đình. Giá mà mấy anh em họ Đoàn kiềm chế hơn… Nhưng liệu họ còn có cách hành động nào khác, để cứu thành quả lao động vất vả mấy chục năm và bao tỷ đồng còn vay nợ, hay không? Khiếu nại với chính quyền, với tòa án địa phương ư? Thì họ đã làm rồi. Không thu được kết quả cần thiết, mà lại còn bị lừa. Khiếu nại với chính quyền trung ương và tòa án cấp cao hơn ư? Bao dân oan kéo về thủ đô đã bị trả về địa phương với lý do không được khiếu kiện vượt cấp. Hơn nữa, kết quả của một số vụ xét xử gần đây cho người dân cảm giác rằng cấp nào xử cũng vậy. Gửi kiến nghị cho X, Y, Z ư? Ngay cả các bậc đại công thần gửi tâm thư cũng không nhận được hồi đáp, các trí thức có tên tuổi kiến nghị hay khởi kiện cũng không được trả lời tử tế, vậy thì những người như ông Vươn (đến cả cấp xã cũng coi là dân ngụ cư nên không cần quan tâm) có thể hy vọng gì? Có lẽ gia đình họ Đoàn cảm thấy mọi nẻo đường hợp pháp đều đã bị chặn đứng, nên đành liều tự xử. Trách nhiệm gây ra cảnh bất công cho gia đình ông Đoàn Văn Vươn có thể thuộc về một số người trong bộ máy chính quyền ở Hải Phòng. Nhưng để cho người dân mất hết niềm tin, manh động trong tuyệt vọng, thì trách nhiệm chắc chắn không chỉ nằm ở cấp Hải Phòng.

Giá mà gia đình họ Đoàn kiên trì hơn, như bao người theo đòi công lý suốt hàng chục năm không nản… Nhưng cũng nên thông cảm với sự sốt ruột của những người chăn nuôi hải sản, không thể bỏ rơi đàn tôm cá hàng năm trời. Vả lại, khi trời chưa kịp yên, sóng chưa kịp lặng, mà những người mới tiếp quản đã vơ vét hàng chục tấn hải sản, thì làm sao có thể đòi hỏi những người chủ thực sự của khối tài sản ấy điềm tĩnh được. Hoàn cảnh của họ cũng giống như người mẹ nghe tiếng con trẻ khóc thét trong căn phòng kẹt khóa bị hỏa hoạn, hiển nhiên là cuống cuồng tìm mọi cách để phá cửa ngay lập tức.

Giá mà người nhà họ Đoàn không bắn vào lực lượng tham gia cưỡng chế, vì họ chỉ là những người thừa hành… Tiếc thay, không mấy khi kẻ cầm đầu ra trận. Cũng như trong các cuộc chiến tranh, cho dù mệnh lệnh sai trái được phát ra từ bộ máy đầu não xa xôi, thì đạn cũng chỉ nhằm vào những người lính đối phương đang lăn lộn trên chiến trường. Không nhằm vào đó thì biết nhằm vào đâu nữa?
*
*   *
Trên đây tôi chỉ trao đổi một số khía cạnh liên quan đến khái niệm "công vụ", "thi hành công vụ" "tội chống người thi hành công vụ". Hy vọng chúng sẽ có ích, không chỉ cho việc xem xét vụ Tiên Lãng.

Tiếng nổ đã phát ra, không thu lại được nữa. Vấn đề còn lại chỉ là đánh giá và xử lý như thế nào? Nếu cương quyết trừng trị bọn lộng hành, tham nhũng và trả lại công bằng cho người dân, thì mới hy vọng khôi phục được niềm tin của nhân dân và sự bình yên của xã hội. Nếu tiếp tục lấp liếm, xử lý một cách thiên vị cho phía công quyền và dồn tội lên đầu nạn nhân, thì sẽ góp phần đẩy đất nước vào một chu kỳ loạn lạc. Bức xúc dồn nén khắp nơi, có lẽ đã ở mức tới hạn của phản ứng dây chuyền.

Tiếng nổ ở Tiên Lãng ngày 5/1/2012 chỉ dừng lại ở vai trò cảnh tỉnh để phục hồi công bằng và luân lý, hay sẽ trở thành tiếng nổ khởi đầu cho loạt nổ lan rộng tiếp theo, điều đó phụ thuộc vào cách xử lý của những người cầm quyền đối với vụ Tiên Lãng.

Hà Nội, ngày 28/1/2012
__________________________________

Nguyễn Xuân Diện xin phép giới thiệu đôi dòng về tác giả Hoàng Xuân Phú:

Giáo sư Tiến sỹ khoa học HOÀNG XUÂN PHÚ (ảnh: Nguyễn Xuân Diện) công tác tại Viện Toán học, thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Ông là Viện sĩ thông tấn của hai Viện Hàn Lâm khoa học:

- Viện sỹ thông tấn Viện Hàn lâm Khoa học Heidelberg
 

- Viện sỹ thông  tấn Viện Hàn lâm Khoa học Bavaria


*

Ông cũng đã từng vài lần tham gia biểu tình phản đối Trung Quốc tại Hà Nội, và có một bộ ảnh rất đẹp gửi tặng Nguyễn Xuân Diện - Blog, tại đây: 


Lắng nghe đồng bào tôi nói: Chùm 1- Chùm 2 - Chùm 3


**Ông là tác giả của loạt bài về Điện Hạt nhân (trong mục Bài quan trọng của Blog này). Loạt bài này đã được gửi tới 63 đoàn Đại biểu Quốc hội Khóa XIII:
 

Bài 1: Mạn đàm về an toàn điện hạt nhân
 http://www.pagewash.com//////nph-index.cgi/000010A/uggc:/=2fkhnaqvraunaabz.oybtfcbg.pbz/2012/02/ubnat-khna-cuh-auna-ih-gvra-ynat-ona-ir.ugzy

Ông còn là tác giả của bài viết: Quyền Biểu tình của công dân, đăng trên NXD-Blog.

TẢN MẠN VỀ THUỐC LÀO TIÊN LÃNG

Thuốc lào Tiên Lãng

Thứ tư 08/02/2012 10:39
ANTĐ - Hải Phòng miền quê của những người yêu mến, chí cốt của tôi, có một sản vật nổi tiếng, ít ra là ở vùng đồng bằng Bắc bộ - Thuốc lào Tiên Lãng, thuốc lào Vĩnh Bảo.

Thú thật là mến yêu đến thế, chí cốt đến thế mà tôi vẫn chưa tường tận vùng đất, vùng nước, sông ngòi và biển cả Hải Phòng. Biết một chút về núi Voi, nơi có chàng họa sĩ Đinh Quân. Một chút về địa danh núi Đèo. Một địa danh mà người nào bạo miệng lắm mới dám nói ngược, nói xuôi. Một chút về các mẹ, các chị Hải Phòng, các anh, các bác Hải Phòng.
Chả biết có phải là duyên phận hay không, mà cuối đời người tôi tậm tọe hút thuốc lào. Thế là những thằng em người Hải Phòng gửi cho cả cân thuốc lào Vĩnh Bảo, thuốc lào Tiên Lãng.
Lại nhớ bố đẻ tôi thành người là nhờ có ba xu thời Pháp thuộc, cạo rỉ sắt cây cầu Rào. Cây cầu nối với Đồ Sơn, nơi có dinh nhà vua Bảo Đại, có khu nghỉ mát đỉnh cao vào thời bây giờ.
Từ những đồng ba xu ấy, bố tôi chuyển sang buôn thuốc lào Vĩnh Bảo, thuốc lào Tiên Lãng. Chỉ có điều tôi không thể giải thích được là ông buôn thuốc lào mà không bao giờ thấy ông hút thuốc lào, thuốc lá. Khi người còn sống tôi bạo mồm hỏi ông: Ông buôn thuốc lào mà không hút thuốc thì làm sao ông biết được thuốc tốt và thuốc chưa tốt, thuốc ngon và thuốc không ngon. Ông bảo: Ngửi còn biết nhiều hơn thứ ngon và thứ không ngon, thứ tốt và thứ chưa tốt.
Ông nói thế và tôi chỉ biết đến thế.

Tập tọe hút thuốc lào đến độ có thể rít một hơi dài như tiếng dế kêu thì xảy ra vụ thu hồi và cưỡng chế đất ở vùng đất Tiên Lãng, Hải Phòng, tôi bật ngửa người mà ngộ ra rằng: Một điếu thuốc lào Tiên Lãng. Một gói thuốc lào Tiên Lãng. Một bánh thuốc lào Tiên Lãng. Nó ngon, nó thơm, nó say bởi nó chất chứa trong đấy là mồ hôi, là nước mắt, là công, là của… thậm chí là cả máu của người nông dân.

Hễ cái gì đã là mồ hôi, là máu, là nước mắt và biết đâu đấy có thể là vào tù ra tội thì ngon hay không ngon nó đau đớn lắm, nó chắt chiu lắm, nó nâng niu lắm.
Cái vụ Tiên Lãng vừa mới xảy ra đã khiến tôi nhận ra cái triết lý đến kỳ lạ của bố tôi: Người là ông lái buôn thuốc lào Tiên Lãng mà người không hút thuốc lào Tiên Lãng.
Người vào tuổi tôi thường hay liên tưởng hay mơ màng… Mơ màng đến quả thị trong câu chuyện Tấm Cám của ông bà ta. Có câu rằng: “Thị ơi, thị rụng bị bà. Bà chỉ để ngửi chứ bà không ăn”. Bởi ăn thị là bà ăn, bà hút cả máu mủ của những cô Tấm ngày xưa, cô Tấm ngày nay.
Và có thể là từ ngày mai, noi gương người, con không hút thuốc lào Tiên Lãng nữa chăng…. Bởi hình như thuốc lào Tiên Lãng làm cho người này thì say, người kia thì tỉnh.


Minh Quang

ÔNG VƯƠN VIẾT THƯ VÀ GỬI ĐI TỪ TRẠI TẠM GIAM CÔNG AN HẢI PHÒNG ?

Ông Vươn viết thư từ trại tạm giam

- Chuyên mụcTin tức|Sự kiện hàng ngày |
Một lá thư dài hai trang được cho là của ông Đoàn Văn Vươn viết và gửi đi từ trại tạm giam Công an Hải Phòng ngày 31-1 đề cập việc xin mời luật sư bào chữa. Xin trích nội dung lá thư này.
“Vào ngày 5-1-2012, trước sự phẫn uất một quyết định cưỡng chế trái pháp luật số 3307 của UBND huyện Tiên Lãng về việc thu hồi đất đầm đối với hộ gia đình tôi và các anh em trong gia đình thể hiện không bồi thường, không giao lại và giao về cho xã Vinh Quang quản lý và sử dụng, nên tôi và các anh em trong gia đình đã chống lại lực lượng cưỡng chế, gây sát thương một số người, dẫn đến tôi và một số anh em tôi đã vi phạm pháp luật, đã bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an TP Hải Phòng khởi tố và đang bị tạm giam tại nhà giam Trần Phú Công an Hải Phòng chờ được ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Ông Vươn viết thư từ trại tạm giam, Tin tức Việt Nam, Tin tức trong ngày, luat dat dai, cuong che thu hoi dat, tien lang, cuong che o hai phong, bao, tin tuc, tin hot, tin hay
Ảnh chụp lá thư dài hai trang của ông Vươn
Tôi có đủ trình độ hiểu biết nhận thức rõ về sai phạm của bản thân, song tôi muốn bào chữa rõ cho tôi về nguyên nhân tôi sai phạm. Tôi đề nghị cho phép tôi được mời đích danh luật sư Nguyễn Việt Hùng - trưởng Công ty luật Đông Đô, Hà Nội - là người bào chữa cho tôi trong quá trình tôi chấp hành điều tra xét xử.
Luật sư Nguyễn Việt Hùng là người tôi tin tưởng nhất và chỉ đồng ý để duy nhất luật sư Nguyễn Việt Hùng là người bào chữa cho tôi.
Tôi không đồng ý những luật sư do cơ quan pháp luật chỉ định và không đồng ý những luật sư do ai khác mời cho tôi. Nếu có những luật sư khác tham gia bào chữa cho tôi thì tôi không đồng ý và từ chối làm việc.
Tôi khẳng định lại tôi chỉ chấp nhận luật sư Nguyễn Việt Hùng là người bào chữa cho tôi...”.
Cuối đơn, ông Vươn còn cẩn thận viết: “Tôi cam đoan bản đề nghị trên của tôi là do tôi tự trình bày theo đúng mong muốn và nguyện vọng của tôi, không bị ai ép buộc sai khiến gì.
Để liên lạc với luật sư Nguyễn Việt Hùng, do tôi không nhớ địa chỉ và số điện thoại nên tôi đề nghị cơ quan điều tra giúp đỡ tôi bằng cách yêu cầu anh Vũ Văn Luân ở Đội 9, Hùng Thắng, Tiên Lãng, Hải Phòng cung cấp số điện thoại, địa chỉ liên lạc của luật sư Nguyễn Việt Hùng.
Kính mong được sự quan tâm của cơ quan điều tra.
Hải Phòng, ngày 31-1-2012
Người viết: (ký tên) Đoàn Văn Vươn”.
Thủ tướng sẽ chủ trì họp giải quyết vụ cưỡng chế
Trong diễn biến mới nhất, dự kiến trong tuần từ ngày 6 đến 10-2, Thủ tướng sẽ chủ trì cuộc họp với một số cơ quan chức năng ở Trung ương và UBND TP Hải Phòng để chỉ đạo, giải quyết vụ việc cưỡng chế thu hồi đất ở xã Vinh Quang, huyện Tiên Lãng, TP Hải Phòng.
Ông Vươn viết thư từ trại tạm giam, Tin tức Việt Nam, Tin tức trong ngày, luat dat dai, cuong che thu hoi dat, tien lang, cuong che o hai phong, bao, tin tuc, tin hot, tin hay
Khu đầm bị cưỡng chế
Để chuẩn bị tốt cuộc họp trên, Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc yêu cầu Thanh tra Chính phủ, các Bộ: Tài nguyên & Môi trường, Công an, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Tư pháp theo chức năng, nhiệm vụ chủ động kiểm tra, nắm chắc tình hình và nội dung vụ việc để có ý kiến tham mưu, đề xuất với Thủ tướng.
Đồng thời, Chủ tịch UBND TP Hải Phòng phải chuẩn bị báo cáo cụ thể, đầy đủ theo yêu cầu của Thủ tướng tại văn bản số 56/VPCP-KNTN ngày 15-1-2012 của Văn phòng Chính phủ.
Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cũng đề nghị Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm soát nhân dân tối cao và Hội Nông Nam chuẩn bị ý kiến tham dự cuộc họp.
Trước đó, ngày 15-1, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã yêu cầu Chủ tịch UBND TP Hải Phòng kiểm tra làm rõ đúng, sai, trách nhiệm của cá nhân, tổ chức trong việc giao đất, sử dụng đất, thu hồi đất, tổ chức cưỡng chế đối với hộ gia đình ông Đoàn Văn Vươn ở xã Vinh Quang, huyện Tiên Lãng, TP Hải Phòng; báo cáo Thủ tướng.
http://www.tinmoi.vn/ong-vuon-viet-thu-tu-trai-tam-giam-02746067.html

Thứ Ba, 7 tháng 2, 2012

Ý KIẾN CỦA MỘT NHÀ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP GẮN BÓ VỚI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

Vụ án Cống Rộc, huyện Tiên Lãng: Anh em ông Đoàn Văn Vương vô tội

 

Hoàng Kim (Đồng Tháp)


Tòa án chúng ta có nhân đạo hơn Tòa án của bọn thực dân Pháp?


Năm 1928, tại làng Phong Thạnh, quận Giá Rai, tỉnh Bạc liêu đã xảy ra việc 2 gia đình nông dân là Biên Toại và Mười Chức vác dao, vác mác chống lại đoàn “cưỡng chế” tịch thu lúa, giết chết một viên chức người pháp trong đoàn cưỡng chế của chính quyền thực dân Pháp.
Sự việc như sau: ông nội của các ông Biên Toại, Mười Chức khẩn hoang được 73 ha đất ruộng, để lại cho cha ông Biên Toại, Mười Chức, cha ông Biên Toại, Mười Chức chết để 73 ha ruộng này lại cho Biên Toại và Mười Chức cùng anh em.
Tên cường hào người Hoa là Bang Trắc cấu kết với quan phủ Ngô Văn H. ở Giá Rai bẻ cong luật pháp cướp đoạt hết 73 ha ruộng của gia đình Biên Toại, Mười Chức.
Bang Trắc bán 73 ha đất này lại cho bà Hà Thị Tr., nhưng gia đình Biên Toại, Mười Chức không giao đất.
Ngày 6 tháng 12 năm 1927, bà Tr. xin được án lệnh của tòa, cho phép tịch thu tất cả lúa của anh em Biện Toại.
Để thực hiện việc “cưỡng chế” tịch thu lúa, chính quyền thực dân Pháp thành lập đoàn cưỡng chế gồm có: hai viên cò Pháp là Tournier và Bouzou với bốn lính mã tà cùng viên chức của làng.
Sáng 16 tháng 2 năm 1928, đoàn cưỡng chế bắt đầu cưỡng chế tịch thu lúa.
Gia đình ông Biên Toại, Mười Chức vác dao, vác mác xông vào chém đoàn cưỡng chế, giết chết viên cò người Pháp Tournier. Phía gia đình ông Biên Toại chết 4 người.
Ngày 17/8/1928 Tòa Đại hình Cần Thơ đưa ra đình ông Biên Toại ra xét xử.
Công tố viên Moureau, thay vì buộc tội theo cương vị, lại biện hộ cho gia đình Biên Toại như một luật sư bào chữa khi nói: “tình cảnh của gia đình Biện Toại rất đáng thương: bị những kẻ không có trái tim (hommes sans coeur) đến cướp đất, rồi bọn có quyền thế tiếp tay với bọn cường hào. Moreau đề nghị tòa tha bổng Biên Toại, cô Liễu (em Biện Toại) và con là Tia, giảm nhẹ cho cô Trọng và Miều (em rể Biện Toại, chồng Liễu).
Tòa Đại hình Cần Thơ tuyên án: Biện Toại, Nguyễn Thị Liễu (em út Toại) và Tia (con trai Toại) được tha bổng. Cô Nguyễn Thị Trọng, sáu tháng tù (đã bị tạm giam đủ sáu tháng). Miều (chồng Liễu), hai năm tù vì có tiền án ăn trộm.
Vụ án Nọc Nạn và vụ án Tiên Lãng có nhiều điểm giống nhau.
Gia đình ông Vươn và ông Quí cũng bị những kẻ không có trái tim trong UBND huyện Tiên Lãng ra lệnh thu hồi 40,3 ha đất mà không bồi thường, nên ông Vươn và ông Quí vác súng tự chế bắn vào đoàn cưỡng chế làm 6 người bị thương.
Tòa án của bọn thực dân Pháp, xử tha bổng những người nông dân Việt Nam chống lại đoàn cưỡng chế, dù họ giết chết một viên chức Pháp trong đoàn cưỡng chế.
Vậy Tòa án của chính quyền Việt Nam, xử ra sao khi những người nông dân Việt Nam chống lại đoàn cưỡng chế, chỉ làm bị thương nhẹ 6 người trong đoàn cưỡng chế?
Đại tướng Lê Đức Anh, trong buổi giao lưu trực tuyến do báo Giáo Dục Việt Nam tổ chức nói: “Tôi không tin một người có chí làm ăn cho gia đình và cho xã hội, chưa từng vi phạm pháp luật, mà lại đi chống đối chính quyền Nhà nước. Đến bây giờ tôi nghe mà vẫn không tin. Phải đặt vấn đề: Tại sao người nông dân ấy lại làm vậy? (*)
Đất của nông dân thu hồi làm gì thì phải rõ ràng, phải thông báo trước nhân dân ít nhất một năm, phải đền bù thỏa đáng cho tài sản của nhân dân, nếu lấy đất ở khu vực đó”.
Cho nên, Công lý chỉ được thực thi khi gia đình anh Vươn được tòa tuyên: tha bổng, vì Tòa án của chúng ta đương nhiên nhân đạo, công minh hơn Tòa án của bọn thực dân Pháp.
Chính quyền huyện Tiên Lãng thu hồi đất của ông Vươn trái pháp luật
Hầu hết các tờ báo lớn, có uy tín trong nước điều khẳng định chính quyền huyện Tiên Lãng làm trái pháp luật, sai đạo lý khi cưỡng chế thu hồi không bồi thường 40,3 ha đất của anh Đoàn Văn Vươn.
Trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online, GS. Đặng Hùng Võ - cựu Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, đã chỉ ra 2 việc sai trái của chính quyền huyện Tiên Lãng:
“ Pháp luật về đất đai ở nước ta chưa bao giờ cho cấp huyện có thẩm quyền quy định về thời hạn và hạn điền, thế mà Tiên Lãng dám tự quy định. Theo Nghị định số 64-CP ngày 27-9-1993 về việc ban hành Bản quy định về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp quy định thống nhất thời hạn sử dụng đất nuôi trồng thủy sản là 20 năm. Nếu đất được giao từ ngày 15-10-1993 trở về trước thì thời hạn được tính thống nhất từ ngày 15-10-1993, nếu đất được giao sau ngày 15-10-1993 thì tính từ ngày giao (quy định hồi tố về thời hạn sử dụng đất). Đây là chính sách rất lớn về đất đai của Đảng và Nhà nước ta.
Các quyết định thu hồi đất của Tiên Lãng có căn cứ vào hết thời hạn mà không được gia hạn. Trong khi đó, Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29-10-2004 về thi hành Luật Đất đai (khoản 1 điều 34) quy định rằng khi hết thời hạn sử dụng đất, các hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp sử dụng đất nông nghiệp do Nhà nước giao được tiếp tục sử dụng đất với thời hạn đã quy định (20 năm), trừ một số trường hợp Nhà nước có quyết định thu hồi đất nhưng không trừ trường hợp Nhà nước thu hồi vì hết thời hạn. Đó là cái sai cơ bản thứ hai của chính quyền Tiên Lãng so với pháp luật hiện hành. Tiên Lãng đã tự quyết định trước cả những quyết định lớn về “làm gì khi hết thời hạn sử dụng đất của nông dân” mà Quốc hội sẽ quyết định trước ngày 15-10-2013” [1].
Chống lại việc cưỡng chế tài sản trái pháp luật, có phải là hành động vi phạm pháp luật?
Thế nhưng, cũng như hầu hết các tờ báo lớn trong nước, điều cho rằng ông Vươn, ông Quí có tội khi bắn súng hoa cải và cho nổ mìn tự chế gây thương tích cho 6 người của đoàn cưỡng chế.
GS Đặng Hùng Võ cũng cho rằng anh Vươn có tội:
“Quyết định thu hội đất và cưỡng chế thu hồi đất của địa phương là sai nên gây ra hậu quả khôn lường, bởi vì nếu quyết định đó là đúng thì người dân đã không chống lại.
Câu chuyện bắt đầu từ đó mà ra thành hậu quả xấu. Tất nhiên cũng phải thấy rõ rằng việc anh Vươn hành động như vậy là hoàn toàn trái pháp luật, cần phải xử lý nghiêm. Với tinh thần của nhà nước pháp quyền, việc xử lý các bên phải đúng người, đúng tội theo quy định của pháp luật” [2].
Nhìn vào nhận định trên, chúng ta nhận thấy GS Đặng Hùng Võ đã tự mâu thuẩn.
GS Đặng Hùng Võ đã định kiến khi cho rằng chống lại lực lượng cưỡng chế là sai, mà quên rằng lực lượng cưỡng chế được thành lập từ quyết định thu hồi đất sai và quyết định cưỡng chế sai.
Nếu chúng ta đặt câu hỏi ở góc độ: ông Vươn có quyền chống lại một đoàn người đến tước đoạt tài sản của mình một cách sai trái hay không? Câu trả lời sẽ là được phép.
Khi chúng công nhận rằng: do quyết định quyết định thu hồi đất và cưỡng chế thu hồi đất của chính quyền huyện Tiên Lãng là sai, nên ông Vươn mới nổ súng (bởi vì nếu quyết định đó là đúng thì ông vươn đã không chống lại), thì chúng ta phải công nhận rằng: ông Vươn có quyền tự vệ lại việc làm sai pháp luật của chính quyền huyện Tiên Lãng.
Thêm nữa, chính quyền huyện Tiên Lãng và Tòa án thành phố Hải Phòng còn cấu kết với nhau, để lừa gạt ông Vươn rút đơn kháng án, tôi sẽ nói ở phần sau.
Tức là: việc ông Đoàn Văn Vươn chống lại đoàn cưỡng chế là chống lại việc làm sai trái của chính quyền huyện Tiên Lãng, để bảo vệ tài sản của mình.
Từ những quyết định sai pháp luật, chính quyền huyện Tiên Lãng thành lập một đoàn cưỡng chế để thực hiện việc cưỡng chế sai pháp luật, thì đoàn cưỡng chế này không thể đại diện cho pháp luật.
Đoàn cưỡng chế này chỉ là công cụ mà chính quyền huyện Tiên Lãng dùng để tước đoạt tài sản của nông dân.
Đoàn cưỡng chế được thành lập từ những quyết định sai pháp luật, nhằm mục đích tước đoạt tài sản của nông dân, thì tồn tại của đoàn cưỡng chế là sai pháp luật, do đó không thể nói rằng đoàn cưỡng chế đang thi hành công vụ, vì thế, không thể kết tội ông Vươn, ông Quí chống người thi hành công vụ
Báo Pháp luật TP HCM Online cho biết: “Theo tài liệu chúng tôi có được, trong kế hoạch chuẩn bị cưỡng chế khu đầm của ông Vươn, Chủ tịch UBND huyện Tiên Lãng nêu rõ: “Trường hợp các đối tượng đe dọa sử dụng hoặc sử dụng chất cháy nổ, chất độc thì các lực lượng công an, quân sự phải kịp thời xử lý ngăn chặn không để xảy ra hậu quả xấu và không dừng việc cưỡng chế”. Điều này cho thấy khả năng phía người bị cưỡng chế sử dụng chất cháy nổ đã được dự liệu và việc cưỡng chế được thực hiện hết sức kiên quyết” [3].
Do đó, nếu ông Vươn và thân nhân không nổ súng, nổ mìn mà dùng bất cứ biện pháp tự vệ nào khác, thì với lệnh của ông Chủ tịch huyện Tiên Lãng, đoàn cưỡng chế trái luật pháp này sẽ tước đoạt hết tài sản của ông Vươn, bản thân ông Vươn và thân nhân sẽ bị bắt vì tội chống người thi hành công vụ, và Trung ương cũng như công luận sẽ không biết được sự việc xãy ra.
Vì vậy, nổ súng vào đoàn cưỡng chế là một hành động tự vệ chính đáng của gia đình anh Vươn.
Chỉ xem xét ở 2 vấn đề sai trái của chính quyền huyện Tiên Lãng mà GS Đặng Hùng Võ đưa ra chúng ta đã thấy rằng: hành động ông Đoàn Văn Vươn nổ súng vào đoàn cưỡng chế được thành lập trái pháp luật để tước đoạt tại sản của ông, là một hành động tự vệ chính đáng.
Thế nhưng, 2 nguyên nhân sai trái của chính quyền huyện Tiên Lãng mà GS Đặng Hùng Võ nêu trên chưa phải là nguyên nhân chính dẫn đến việc ông Vươn nổ súng.
Nguyên nhân chính khiến ông Vươn căm phẫn đến nổ súng, là do hoàn toàn mất lòng tin vào luật pháp, uất ức vì bị chính quyền huyện Tiên Lãng và Tòa án thành phố Hải Phòng mà đại diện là thẩm phán Ngô Văn Anh cấu kết lừa gạt.
Trong Báo cáo số 11/BC-UBND: “về việc cưỡng chế thu hội đất nuôi trồng thủy sản đã hết thời hạn sữ dụng và vụ án giết người chống người thi hành công vụ tại xã Vinh Quang, huyện Tiên Lảng” do Chủ tịch huyện Tiên Lãng Lê Văn Hiền ký, việc kháng cáo của anh Đoàn Văn Vươn được báo cáo như sau:
“Việc ông Vươn khiếu nại quyết định hành chính của UBND huyện Tiên Lãng đã được Tòa án thành phố Hải Phòng giải quyết tại quyết định đình chỉ số 02/2010 HCPT-QĐ ngày 22/4/2010 Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng có hiệu lực pháp luật là căn cứ để Ủy ban nhân dân huyện Tiên Lãng thi hành”.
Báo cáo này không hề nói đến việc ông Vươn không đồng ý với án sơ thẩm của Tòa án huyện Tiên Lãng, nên làm đơn kháng án lên Tòa án thành phố Hải Phòng.
Báo cáo này cũng không thể hiện biên bản hòa giải được Tòa án thành phố Hải Phòng thực hiện, do Thẩm phán Ngô Văn Anh chủ tọa.
Trên báo Pháp luật TP HCM Online, về việc hòa giải của Tòa án thành phố Hải Phòng, ông Võ Văn Luân người cùng khởi kiện với ông Vươn cho biết:
“Tôi và anh Vươn cùng khởi kiện UBND huyện Tiên Lãng, cùng bị thua kiện ở cấp sơ thẩm và kháng cáo. Tại cấp xét xử phúc thẩm ở TAND TP Hải Phòng, đại diện cho UBND huyện Tiên Lãng trong vụ kiện của tôi là ông Phạm Xuân Hoa, Trưởng phòng TN&MT; đại diện UBND huyện trong vụ kiện của anh Đoàn Văn Vươn là ông Vũ Văn Hè, Trưởng phòng Tư pháp huyện Tiên Lãng…
Ngày 9-4-2010, tại trụ sở TAND TP Hải Phòng, Thẩm phán Ngô Văn Anh làm việc với tôi. UBND huyện cũng thấy yếu lý nên đồng ý thỏa thuận là chúng tôi rút đơn, đổi lại huyện sẽ không thu hồi, tiếp tục cho thuê đất.
Khi làm việc xong vụ của tôi, đóng dấu vào biên bản là đã hơn 11 giờ. Thẩm phán Ngô Văn Anh tiếp tục làm việc với anh Vươn và đại diện UBND huyện là ông Hè. Cũng như tôi, anh Vươn đồng ý rút đơn và ông Hè đồng ý rằng huyện sẽ tiếp tục cho thuê đất. Tôi cũng ngồi và chứng kiến cuộc làm việc này. Tuy nhiên, vì quá muộn, cuộc làm việc ấy không kịp lập và đóng dấu biên bản nên thẩm phán hẹn sẽ gửi biên bản về sau” [4].
Báo Pháp luật TP HCM nêu thêm chứng cớ về việc UBND huyện Tiên Lãng hòa giải với ông Vươn:
“Trong Công văn số 291/2010/CV ngày 25-6-2010 của TAND TP Hải Phòng do Thẩm phán Ngô Văn Anh ký, gửi ông Đoàn Văn Vươn có nội dung:
Trong quá trình giải quyết vụ án ở cấp phúc thẩm, TAND TP Hải Phòng đã tạo điều kiện để các đương sự tự thỏa thuận với nhau để giải quyết vụ án. Ngày 9-4-2010, tại trụ sở TAND TP Hải Phòng, ông nhất trí rút đơn kháng cáo và xin thuê lại đất theo quy định của pháp luật. Đại diện UBND huyện Tiên Lãng cũng nhất trí cho ông thuê lại đất theo quy định của pháp luật, vì vậy TAND TP Hải Phòng đã đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ kiện”.
Qua công văn trả lời của ông Thẩm phán Anh, thì việc tạo điều kiện để ông Vươn và đại diện UBND huyện Tiên Lãng thỏa thuận với nhau nằm trong quá trình giải quyết vụ án ở cấp phúc thẩm của TAND TP Hải Phòng.
Thỏa thuận đạt được là: đại diện UBND huyện Tiên Lãng nhất trí cho nông Vươn thuê lại đất theo qui định của pháp luật, đổi lại ông Vươn rút đơn kháng cáo phúc thẩm.
“Vì vậy, TAND TP Hải Phòng đã đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ kiện” có nghĩa là: vì lý do đã có thỏa thuận của ông Vươn và đại diện UBND huyện Tiên Lãng nên Tòa án không cần phải xét xử phúc thẩm nữa”.
Căn cứ vào biên bản thỏa thuận, ông Vươn không còn kháng án, nên ngày 22/4/2010 Tòa án thành phố Hải Phòng mới ra Quyết định số 02/2010HCPT-QĐ đình chỉ việc xử phúc thẩm.
Như vậy: Biên bản thỏa thuận ngày 9/4/2009 có giá trị thay thế cho việc xử phúc thẩm của Tòa án thành phố Hải Phòng. Tòa án thành phố Hải Phòng không xử phúc thẩm vì đã đạt được thỏa thuận hòa giải.
Một thỏa thuận nhằm giải quyết đơn kháng cáo cấp phúc thẩm của ông Đoàn Văn Vươn, được ký kết ở Tòa án thành phố Hải Phòng, dưới sự chủ tọa của Thẩm phán Ngô Văn Anh, khiến cho ông Vươn rút đơn kháng án phúc thẩm, phải có giá trị thay thế việc xử phúc thẩm, và Tòa án thành phố Hải Phòng phải có trách nhiệm giám sát 2 bên thực hiện đúng tinh thần của thỏa thuận này.
Thế nhưng, chính quyền huyện Tiên Lãng lật lọng với ông Vươn, không thực hiện đúng theo biên bản thỏa thuận cho ông Vươn thuê lại đất, mà ngày 24/11/2011 lại ra Quyết định số 3307/QĐ-UBND để cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thu hồi đất đối với ông Đoàn Văn Vươn.
Không những không cho thuê tiếp theo thỏa thuận, mà còn tước đoạt hết 40,3 ha đất của ông Vươn mà chẳng bồi thường.
Chính quyền huyện Tiên Lãng lật lọng, còn Tòa án thành phố Hải Phòng lại bao che để chính quyền Tiên Lãng làm bậy, mà không hề yêu cầu chính quyền Tiên Lãng thực hiện đúng thỏa thuận đã ký ngày 9/4/2010.
Bà Nguyễn Thị Mai, Chánh án TAND TP Hải Phòng lại tuyên bố: “Biên bản tạo điều kiện để các đương sự tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án mà Thẩm phán Ngô Văn Anh lập không có giá trị pháp lý trong tố tụng hành chính. Biên bản chỉ là căn cứ để sau đó tòa ra quyết định đình chỉ việc xét xử phúc thẩm” [5].
Ông Vươn làm đơn kháng án, Tòa án thành phố Hải Phòng cử ông Thẩm phán Ngô Văn Anh tổ chức cho ông Vươn và đại diện UBND huyện Tiên Lãng thỏa thuận với nhau, có biên bản thỏa thuận rõ ràng, khiến cho ông Vươn mất quyền kháng án phúc thẩm, mà bà Chánh án Tòa án Hải Phòng nói thỏa thuận này không có giá trị pháp lý, vậy, Tòa án thành phố Hải Phòng tạo điều kiện cho 2 bên tự thỏa thuận để làm gì?
Sao không xữ phúc thẩm cho ông Vươn mà lại tổ chức một thỏa thuận không có giá trị pháp lý?
Để gạt ông Vươn rút lại đơn kháng án chăng?
Như vậy, rõ ràng đã có sự bật đèn xanh từ phía Tòa án thành phố Hải Phòng cho chính quyền huyện Tiên Lãng - rằng thỏa thuận đã ký là không có giá trị pháp lý - cho nên chính quyền huyện Tiên Lãng mới lật lọng mà quay lại cưỡng chế ông Vươn.
Tại sao thỏa thuận ký ngày 9/4/2010 lại không có giá trị pháp lý?
1) Tại vì Thẩm phán Ngô Văn Anh và lãnh đạo Tòa án thành phố Hải Phòng quá kém chuyên môn nên thay vì xét xử phúc thẩm, lại làm một việc bậy bạ là tạo điều kiện để ông Vươn và đại diện UBND huyện Tiên Lãng ký một biên bản tự thỏa thuận vô giá trị, khiến cho ông Vươn mất quyền kháng án?
Nếu đúng như vậy, thì lãnh đạo UBND thành phố Hải Phòng phải chịu trách nhiệm trước ông Vươn, vì đã cắc nhắc những người yếu kém lên làm lãnh đạo Tòa án thành phố Hải Phòng, để họ dựa bệ ăn lương mà làm điều bậy bạ, gây thiệt hại cho ông Vươn.
Lãnh đạo UBND thành phố Hải Phòng phải sửa sai bằng cách thu hồi Quyết định số 02/2010HCPT-QĐ đình chỉ việc xử phúc thẩm, và xữ phúc thẩm theo đơn kháng án của ông Vươn.
2) Tại vì Thẩm phán Ngô Văn Anh và lãnh đạo Tòa án thành phố Hải Phòng cấu kết với chính quyền huyện Tiên Lãng, để gài bẫy ông Vươn ký vào một biên bản thỏa thuận không có giá trị pháp lý, gạt ông Vươn rút đơn kháng án?
Vậy thì, phải khởi tố Thẩm phán Ngô Văn Anh và lãnh đạo Tòa án thành phố Hải Phòng và chính quyền huyện Tiên Lãng với tội danh: Lợi dụng chức vụ và quyền hạn cấu kết để lừa gạt, nhằm tước đoạt tài sản của nông dân, gây hậu quả nghiêm trọng.
Lãnh đạo UBND thành phố Hải Phòng cũng phải sửa sai bằng cách thu hồi Quyết định số 02/2010HCPT-QĐ, và xử phúc thẩm theo đơn kháng án của ông Vươn.
Tôi xin nhấn mạnh: dù vì bất cứ lý do gì mà Tòa án thành phố Hải Phòng làm sai, khiến cho anh Vươn mất quyền kháng án, thì UBND thành phố Hải Phòng phải sửa sai, bằng cách phục hồi quyền kháng án cho anh Vươn, chứ không thể nói một cách vô trách nhiệm rằng ông Thẩm phán Anh sai nên anh Vươn mất quyền kháng án.
Chính những câu trả lời vô trách nhiệm của Tòa án thành phố Hải Phòng theo kiểu của bà Chánh án Nguyễn Thị Mai, mà anh Đoàn Văn Vươn phẫn uất đến nổ súng.
Xin mọi người nhìn rõ để cảm thông cho tình cảnh của anh Vươn.
Nông dân chất phát Đoàn Văn Vươn, người đi tiên phong trong việc đắp đê lấn biển để nuôi trồng thủy sản, người đã dùng tất cả: tuổi trẻ, sức lực, trí tuệ, tài sản và cả xương máu để bẻ nạng chống trời.
May mắn thành công, thành quả chưa kịp hái, nợ nần chưa kịp trả, thì bị UBND huyện Tiên Lãng ra quyết định thu hồi trái pháp luật, trái đạo lý cưỡng đoạt sạch trơn 40,3 ha đất.
Đến huyện mong được cho thuê thêm để làm ăn trả nợ, huyện nói hết thời gian lấy lại không cho thuê nữa.
Phân trần rằng: tôi có công khai phá, nên cho tôi thuê tiếp, chứ sao lại lấy lại giao cho người khác.
Huyện bảo: đất đai của nhà nước, nên chính quyền huyện có quyền thu hồi, giao cho ai là quyền của huyện.
Ức lòng đi kiện, Tòa án huyện Tiên Lãng xử thua.
Một lòng tin vào công lý, kháng án lên Tòa án thành phố Hải Phòng, Tòa án không xử phúc thẩm mà ông Thẩm phán Ngô Văn An hướng dẫn thỏa thuận với đại điện UBND huyện Tiên Lãng.
Lập biên bản thỏa thuận rằng: UBND huyện Tiên Lãng sẽ tiếp tục cho thuê đất nếu ông Vươn rút đơn kháng cáo, thế là anh Vươn rút đơn kháng cáo.
An tâm sản xuất, chờ ngày làm giấy thuê đất theo thỏa thuận.
Đùng một cái, UBND huyện Tiên Lãng lật lọng tuyên bố rằng: do anh Vươn rút đơn kháng cáo xin phúc thẩm nên án sơ thẩm có hiệu lực, buộc anh Vươn phải giao 40,3 ha đất mà không bồi thường đồng nào.
Hỏi huyện: đã thỏa thuận ở Tòa án thành phố Hải Phòng tôi rút đơn kháng cáo, huyện sẽ cho thuê tiếp, sao bây giờ huyện lại thu hồi?
Huyện ngang ngược phủ nhận: giấy thỏa thuận không có giá trị, bản án sơ thẩm mới có giá trị.
Hỏi Tòa án thành phố Hải Phòng: đã ký thỏa thuận tại đây, sao bây giờ huyện nói không giá trị?
Tòa án thành phố Hải Phòng thản nhiên: thỏa thuận không có giá trị, căn cứ vào luật pháp, anh rút đơn kháng cáo, nên án sơ thẩm có hiệu lực thi hành.
Bà Chánh án Tòa án thành phố Hải Phòng: theo luật pháp hiện hành, chỉ có bản án phúc thẩm của Tòa án thành phố Hải Phòng mới có giá trị xóa bỏ án sơ thẩm của Tòa án huyện Tiên Lãng, còn Biên bản thỏa thuận không có giá trị pháp lý.
Cả Tòa án đồng thanh nói: việc tại sao ông Thẩm phán Ngô Văn Anh lại tổ chức cho 2 bên thỏa thuận, thì ông kiếm Thẩm phán Anh mà hỏi.
Đi năm lần mười lượt mới gặp Thẩm phán Ngô Văn Anh.
Hỏi ông Anh: sao bà Chánh án nói Biên bản thỏa thuận mà ông lập không có giá trị pháp lý?
Thẩm phán Ngô Văn Anh tỉnh queo: theo luật định, Biên bản thỏa thuận không có giá trị pháp lý. Tôi chỉ tạo điều kiện cho 2 bên tự nguyện thỏa thuận và lập biên bản thỏa thuận, còn nội dung thỏa thuận là do ông và đại diện UBND huyện Tiên Lãng đồng ý lập ra, vậy cho nên 2 bên phải tự nguyện thực hiện theo thỏa thuận.
Hỏi: Biên bản không có giá trị thay thế bản án phúc thẩm, thì ông để tôi kháng án, chứ sao lại kêu tôi rút đơn kháng án?
Thẩm phán Anh: ông nhớ cho kỹ nghen, ông tự nguyện rút đơn kháng án, chứ tôi không có bảo ông rút đơn kháng án.
Anh Vươn: vì có biên bản thỏa thuận huyện hứa cho tôi thuê tiếp, tôi mới rút đơn kháng án, chứ tôi không tự nhiên mà rút đơn. Mà tôi hỏi ông, nếu biên bản thỏa thuận không có giá trị pháp lý, thì ông tổ chức thỏa thuận để làm gì?
Thẩm phán Anh: ông đi thưa kiện thì ông phải biết luật, ông phải biết thỏa thuận không có giá trị pháp lý, chứ tôi không có trách nhiệm phải nói cho ông biết điều đó, còn rút đơn kháng án là ông tự nguyện, thì ông phải chịu chứ đừng trách tôi.
Anh Vươn: vậy ra, ông và Tòa án thành phố Hải Phòng, bày mưu tổ chức thỏa thuận để lừa tôi rút đơn kháng án à?
Thẩm phán Anh: Ông nói như vậy, tôi không tiếp ông nữa.
Bị lừa! Mình bị chúng nó lừa rồi! Mình bị bọn Tòa án thành phố Hải Phòng cấu kết với bọn chính quyền Tiên Lãng nó lừa rồi!
Luôn vang lên trong đầu anh Vươn, trên đường từ Tòa án thành phố Hải Phòng trở về nhà.
Nguy cơ bị cưỡng chế trắng tay cận kề, rồi đây gia đình lấy gì mà sống!
Hằng ngày, hằng đêm: nỗi phẫn uất vì bị những người thực thi pháp luật lừa gạt bốc lửa trong lòng anh, nổi lo sợ toàn bộ tài sản bị tước đoạt một cách bất công bóp nghẹt trái tim anh.
Con đường đến với pháp luật đã bị chặn.
Lòng tin vào pháp luật đã mất.
Pháp luật đã bị bịt mắt, ngày cưỡng chế đã cận kề, anh Vươn còn con đường hợp pháp nào khác để phản kháng với cường quyền?
Chỉ còn một con đường tuyệt vọng: nổ súng.
Không phải nổ súng để giết người mà:
Nổ súng: cho Trung ương biết thảm trạng của gia đình.
Nổ súng: để hy vọng pháp luật trở về.
Nổ súng: để đánh động công luận, khiến cho công luận quan tâm.
Nổ súng: để vợ dại, con thơ còn có mái nhà để ở, có nơi làm ăn sinh sống.
Nổ súng: để tìm hy vọng trong tuyệt vọng.
Chúng ta không khuyến khích công dân chống người thi hành công vụ, nhưng chúng ta cũng không thể để cường quyền áp bức nông dân.
Xin hãy đặt vấn đề như Đại tướng Lê Đức Anh: Tại sao người nông dân ấy lại làm vậy?
Xin mọi người hãy tự hỏi và tự trả lời câu hỏi: ở vào địa vị của anh Vươn, mình có nổ súng không?
Mong rằng mọi người, nhất là những người thi hành pháp luật, hãy nhìn sự việc nổ súng trong tuyệt vọng của anh Vươn với sự công tâm và lòng trắc ẩn.
Đã có tiền lệ ở vụ án Nọc Nạn.
Nông dân Tiên Lãng, nông dân Hải Phòng, nông dân cả nước mong rằng: Tòa án của Việt Nam ta nhân đạo bằng hoặc hơn Tòa án của bọn thực dân Pháp.

H.K.


Tài liệu tham khảo:
(*) Bài: “ Giao lưu trực tuyến về vụ cưỡng chế ở Tiên Lãng, Hải Phòng”
giaoduc.net.vn
(1) Bài: “Để thực thi nghiêm pháp luật đất đai” thesaigontimes.vn
(2) Giáo dục Việt Nam Online, bài: “ GS. Đặng Hùng Võ: PCT Hải Phòng nói không có căn cứ”. baomoi.com
(3) Bài: “ Vụ Tiên Lãng ( Hải Phòng): lảnh đạo xã chứng kiến phá nhà?” phapluattp.vn
(4) Bài: “ Đại diện UBND huyện có hòa giải với ông Đoàn Văn Vươn”. phapluattp.vn
(5) Diễn đàn Doanh nghiệp Online, bài: “ Vụ việc ở Tiên Lãng: Thẩm phán TAND TP Hải Phòng đã “ lừa” ông Vươn” dddn.com.vn

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN

http://anonymouse.ru/cgi-bin/nph-proxy2.cgi/010110A/uggc:/=2fobkvgia.oybtfcbg.pbz/2012/02/ih-pbat-ebp-uhlra-gvra-ynat-nau-rz-bat.ugzy