Thứ Sáu, 1 tháng 2, 2013

VỰC QUÀNH: “BẢO TÀNG CHIẾN TRANH”, LIỆU CÓ TRỞ THÀNH NỖI XÓT XA CỦA MỘT THẾ HỆ ĐI TRƯỚC ?

IMG_1709 IMG_1710
ảnh Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Cụ Hồ, ông Lê Duẫn và oomh Phạm Văn Đồng những năm 1960s, treo ở “trụ sở” bảo tàng Vực Quành.
  … Khi trời bắt đầu lâm thâm mưa, bốn bà con đành ra xe. Mình thấy có chút hụt hẩng và luyến tiếc. Bạn mình cũng thấy tiếc là giờ mới biết. Mà khi biết đưa con lên thăm quan thì có vẽ như “Bảo tàng Vực Quành” đã gần giống như phế tích. Hắn vẫn chưa hình dung ra những gì mình kể. Hắn cũng không hiểu vì sao “Vực Quành” trông như phế tích vậy? Mình nói, nguyên nhân sâu xa là cung cách làm ăn của Quảng Bình. Lãnh đạo tỉnh ủng hộ (trên nguyên tắc) nhưng cán bộ cấp trung gian không muốn thực thi những gì được chỉ đạo. Chắc không có màu mè chấm mút gì được đó thôi! Bác Liên lúc đầu chỉ làm “chơi” để lưu giữ chứng tích và giáo dục thế hệ sau đừng quên quá khứ. Song song với xây dựng “Vực Quành”, bác còn tham gia tìm kiếm phần mộ liệt sỹ đã hi sinh ở vùng tuyến lửa thời chiến tranh. Đóng góp của bác đã được VTV2 đưa lên sóng của mình.
 Khi đã đầu tư bao công sức và tiền của, “Bảo tàng Vực Quành” được lên báo nhiều. Để tương xứng với “tầm vóc” sự quan tâm, bác Liên được tư vấn nâng “Bảo tàng Vực Quành” lên “Khu du lịch sinh thái văn hóa…”. Năm 2010, tỉnh Quảng Bình cấp “Giấy chứng nhận đầu tư” (GCNĐT) cho khu du lịch. Bác đã nộp GCNĐT cho Chi cục Thuế Đồng Hới. Theo luật đầu tư hiện hành, thì “Bảo tàng Vực Quành” được miễn tiền thuê đất (đầu tư) 10 năm. Thế mà Chi cục Thuế Đồng Hới lại đòi tiền thuê đất 2 năm 2010 và 2011 đến gần 800 triệu đồng.
Bảo tàng Vực Quành, dù đã biết đến nhiều năm, du khách trong và ngoài nước đã đến thăm quan. Nhiều trường cũng đưa các em học sinh đến dã ngoại để giáo dục lịch sử bằng trực quan sinh động. Nhưng tất cả đều miễn phí. Thế thì lấy tiền đâu để bác Liên nộp cho Chi cục thuế Đồng Hới?
 Mấy hôm sau, ngồi cà-phê ở 81 Lý Thường Kiệt, Đồng Hới mình đưa câu chuyện này ra nói. Trong bàn, ngoài thằng bạn và mấy đứa, có chú em họ nhiều năm làm giám đốc Lâm trường Long Đại (Bảo tàng Vực Quành cũng thuộc địc bàn này) đưa ra bình luận. Nhiều đại gia nước ngoài vào thuê đất làm ăn như Coca Cola, Honda,.. lãi ầm ầm mà cũng được miễn tiền thuê đất. Cái bảo tàng văn hóa lịch sử của địa phương có chút xíu mà lại làm khó dễ. Chẳng qua chúng nó đòi ăn đó thôi !
 Đó là lý do chính để công sức tiền của Bác Liên bao năm có cơ thành… phế tích.
Mình lại nhớ câu nói của triết gia người Đa-ge-xtan, Abutalip, mà nhà văn Raxun Gamzatob dẫn lại: Nếu anh bắn vào quá khứ bằng súng lục thì tương lai sẽ bắn vào anh bằng đại bác!
Thế hệ công chức trẻ sinh ra sau chiến tranh lại sống trong một xã hội ngày càng tao loạn về chuẩn mực lối sống, về giá trị đạo đức làm người thì làm sao mà có đủ nền tảng văn hóa để hiểu được giá trị di sản của cha ông ?
Buồn quá bác Nguyễn Xuân Liên nhỉ?

.. trời bắt đầu mưa lâm thâm thì “đoàn” ra về. Vừa đi hết khoảng trăm mét đường nhựa vô “bảo tàng” này thì mình thấy bên phải (hướng Đông) có con đường đất xe vô được…

… xe đã chạy quá một đoạn, nhưng mình bảo thằng bạn dừng xe để mình vô “trinh sát” trước. Vào đến cuối đường thì thấy…

.. 2 cái cổng. Một cổng sắt kín mít và kiên cố. Một cổng gỗ đã đang mục nát..

Mình biết hướng của bảo tàng là phía cổng gỗ. Đẩy cửa đi vô thì thấy một gia đình đang chuẩn bị đám giỗ… Mình hỏi có lối đi qua bảo tàng không? Có bác Liên bên ấy không?

… chủ nhà nhiệt tình báo cho biết, bác Liên đã ra Hà Nội. Nếu mình muốn xem bảo tàng sẽ có người dẫn đi… Nhìn sang bên kia bảo tàng có một chiếc phà tự tạo bằng các thùng phuy và có một nàng Cún giống Nhật đang ve vẫy đuôi…

Cầu phao được kéo sang.

nàng Cún dzọt lên trước và xoắn xuýt đón “đoàn”…

… đoàn men theo bờ kênh không có lối mòn để vào bảo tàng…

… vì lối thăm quan theo quy trình… ngược nên ngôi nhà đầu tiên đoàn gặp là “lớp học thời chiến”. Đó là ngôi nhà tranh như bao ngôi nhà khác thời đó. Xung quanh được đúc bằng đất biên hoa dày để tránh sự sát thương của mảnh bom. Dĩ nhiên bom rơi trúng nhà thì vẫn tiêu cả lớp học. Nhưng nói theo kiểu xác suất thóng kê chiến tranh của dân Quảng Bình thì… “bom rơi chưa chắc đã trúng. Trúng chưa chắc đã chết. Chết chưa chắc đã tan xác. Tan xác may ra vẫn còn nhặt được một vài rổ… thịt!

… nghe nói lớp học thời chiến nàng Út mình xăm xam đi vô để biết lớp học thời đó của ba mẹ như thế nào…

… “lớp học” chỉ còn ba cái bàn ghép từ tre, gỗ. Ba bó củi và bàn thờ Tưởng Niệm các anh hùng liệt sỹ, thầy cô giáo và viên chức ngành giáo dục Quảng Bình đã hi sinh trong thời kỳ chiến tranh phá hoại…. (nhìn cảnh này mình thấy cay cay sống mũi. Phải giải thích thêm con gái mình mới hiểu điều kiện học hành và sự rủi ro nguy hiểm trong chiến tranh mà thầy cô và học sinh phải gánh chịu…)

… tấm bảng đen ghi bài giảng truyện ngắn “VỢ CHỒNG A PHỦ” của lớp học. Chẳng biết làm sao lại “chạy về một “nhà dân” (chắc nhà, nơi thầy giáo ở trọ…)

… hệ thống đường giao thông hào nối liền trường học, bệnh xá, trụ sở ủy ban và nhà dân được tái hiện lại ở Bảo tàng Vực Quành. Nay đang bị sạt lỡ và hoang hóa…

.. nhà trẻ đã xuống cấp…

… bên trong hai hàng nôi tái hiện tái hiện cuộc sống vùng tuyến lửa ác liệt mà ngành giáo dục QB – VL vẫn duy trì được từ nhà trẻ đến cấp 3, sư phạm…

… một ngồi nhà điển hình của vùng quê Quảng Bình thời chiến tranh. Những ngồi nhà như thế này, hồi đó thuộc diện khá giả do cha ông để lại. Nhà kiều nhà lồng (nhà rường) nhiều cột. Bác Liên cho biết, thời bác bắt đầu xây dựng bảo tàng, người dân QB bắt đầu đua nhau phá bỏ nhà cũ. Bác mua lại rất rẽ các ngôi nhà này. Mình xác nhận điều này, vì giai đoạn 2000 – 2005, chính anh trai mình cũng phá bỏ ngôi nhà lồng nhiều cột một gian hai chái của ông già để lại. Phong trào xây nhà gạch kiểu nhà hộp có đổ bê-tông cốt thép cao ráo vuông vức để chống lụt bão. Nhưng trong một không gian có vườn tược cây cối trong nó rất nửa tỉnh nửa quê. Rất nhiều nhà như thế bất chấp vùng trũng hay lụt lội hay vùng đồi cao ráo… Bây giờ các thành phố mua lại nhà này rất đắt để làm quán xá…

… đây là cái ĐÔN. Nó rất phổ biến thời chiến tranh phá hoại của không lực Mỹ. Nó có khung cây và gỗ, nhưng trét đất sét trộn với rơm. Nơi cất giữ lương thực và đồ dùng dễ bị cháy do bom Mỹ…

.. vẫn có những gia đình sợ bom rơi trúng, nhà sập thì ĐÔN cũng mất nên làm cách xa nhà ngoài vườn. Rũi nhà cửa có bề gì thì vẫn còn có cái ăn. Thời đó hầu như không có trộm cướp như bây giờ….

… những bụi sả, vừa là cây thảo dược vừa là gia vị, không thể thiếu của mỗi gia đình Quảng Bình thời chiến tranh. Ở bảo tàng Vực Quành, những bụi sả này cũng “xòe cánh nhớ cánh thương”…

… trời bắt đầu mưa nặng hạt. Mấy bà con cũng ráng đi thăm hết những khu nhà còn lại. Bắt đâu đi vô khu vực trạm xá dã chiến…

.. xuống hầm Bệnh xá dã chiến..

.. một cá mổ thời chiến dưới hầm phẫu thuật qua bức ảnh còn sót lại..

.. trong hầm còn sót lại chiếc bàn mổ dã chiến và mấy bức ảnh phóng to mô tả cứu chữa thương binh thời chiến…

… có hai đường “hầm chữ A” liên thông giữa “nhà phẩu thuật” và “nhà hậu phẫu”, của bảo tàng…

… nghe mình giới thiệu, con gái mình nói: nghe rồi giờ con mới hiểu hầm chữ A là thế nào. Sau đó nàng chui qua lối thông ra ngoài…

.. nới cuối cùng đoàn đến là ngồi nhà “hội trường kiêm trụ sở” thời xưa. Nếu bảo tàng còn hoạt động, thì đây là điểm đến đầu tiên trong chuổi nhà của “làng xã thời chiến”…

.. “trụ sở” trống hươ trống hoác. Vẫn còn sot lại cái bảng, két sắt của thủ quý, 3 bức ảnh màu của Cụ Hồ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và hai ông Lê Duẫn, Phạm Văn Đồng và…

… tấm bản đồ (by hand) về tọa độ lửa cung đường Trường Sơn trên đất Quảng Bình thời chiến…

Gió mùa đông bắc về, đoàn bắt đầu ra về kẻo sợ mưa to. Mình nán chụp mấy bức hình lãnh tụ. Con gái quay lại giục Ba về…

… nơi đến trước lúc ra về là nơi ở của bá Nguyễn Xuân Liên tại bảo tàng…

.. ngôi nhà ba gian giống như các ngôi nhà dân thời chiến tranh. Gian trái tập hợp các hiện vật (chắc là gom lại sau khi bác Liên rời “làng”. Bên phải chiếc giường gỗ còn nguyên chăn chiếu (chắc chú Toàn ngủ coi Làng). Giữa có bàn thờ đơn sơ và di ảnh của tiền nhân. Chiếc điện thoại không dây của Viettel vẫn đổ chuông khi mình bấm sô mà chú Toàn cho. Hai bên cột treo câu đối và chữ TÂM. TÂM GIA BẢN. TÂM LÀ GỐC…

… Mình ngoái lại lần cuối chiếc phà + cầu pháo tự kéo… Cảnh sông nước đẹp buồn tê tái…

.. ngoài những chứng tích chiến tranh đang dần trở thành phế tích, đọng lại trong mình là hình ảnh nàng Cún của “Làng Vực Quành”. Mình không rõ là của Bác Liên hay của chú Toàn. Nhưng khi mình đến “bến phà”. Nó đứng một mình trên “phà”. Mình là người đầu tiên xuống phà nó quấn quít mừng rõ như gặp lại bác Liên đi xa mới về. Khi mình lên bờ trước, nó dzọt lên và nhảy chôm lên mình, khi đang chụp ảnh. Ra về, nó vẫn còn lưu luyến với con gái khi mọi người đã lên xe và nó còn….

.. chạy theo xa một quảng dài, gần ra đến đường nhựa mới quay về… trong vẽ mặt của nàng Cún rất buồn. Không giống như vẽ mặt của nó khi “đoàn” mới đến…

… trên đường về, trời mưa như trút nước. Đến nhà bạn thì mới biết đợt gió mùa đông bắc kèm ảnh hưởng của áp thấp nhiệt đới.. đường Lý Thường Kiệt, Đồng Hới là đường QL 1A mà buổi trưa vắng hoe xe cộ…
Nhà thằng bạn nối khố của mình, Trần Đăng Đỉu, vốn là dân học chế tạo máy, có cái khách sạn mini 16 phòng. Khách sạn Xuân Hương. Địa chỉ 79 Lý Thường Kiệt, TP Đồng Hới, Quảng Bình. Nếu Bọ, Mạ nào quan tâm Bảo tàng Vực Quành hãy ghé Khách sạn Hương Xuân, bạn mình sẽ đưa đi thăm “Bảo tàng làng xã Quảng Bình thời chiến tranh” đang có nguy cơ thành phế tích…. 
Đồng Hới,  25/12/2012 – Nha Trang, 13/01/2013
Sao Hồng

Thứ Hai, 7 tháng 1, 2013

VỰC QUÀNH: “BẢO TÀNG CHIẾN TRANH”, LIỆU CÓ TRỞ THÀNH NỖI XÓT XA CỦA MỘT THẾ HỆ ĐI TRƯỚC ? (Sao Hồng).

VỰC QUÀNH: “BẢO TÀNG CHIẾN TRANH”, LIỆU CÓ TRỞ THÀNH NỖI XÓT XA CỦA MỘT THẾ HỆ ĐI TRƯỚC ? bởi Sao Hồng vào 7 tháng 1 2013 lúc 1:02 · … Khi trời bắt đầu lâm thâm mưa, bốn bà con đành ra xe. Mình thấy có chút hụt hẩng và luyến tiếc. Bạn mình cũng thấy tiếc là giờ mới biết. Mà khi biết đưa con lên thăm quan thì có vẽ như “Bảo tàng Vực Quành” đã gần giống như phế tích. Hắn vẫn chưa hình dung ra những gì mình kể. Hắn cũng không hiểu vì sao “Vực Quành” trông như phế tích vậy? Mình nói, nguyên nhân sâu xa là cung cách làm ăn của Quảng Bình. Lãnh đạo tỉnh ủng hộ (trên nguyên tắc) nhưng cán bộ cấp trung gian không muốn thực thi những gì được chỉ đạo. Chắc không có màu mè chấm mút gì được đó thôi! Bác Liên lúc đầu chỉ làm “chơi” để lưu giữ chứng tích và giáo dục thế hệ sau đừng quên quá khứ. Song song với xây dựng “Vực Quành”, bác còn tham gia tìm kiếm phần mộ liệt sỹ đã hi sinh ở vùng tuyến lửa thời chiến tranh. Đóng góp của bác đã được VTV2 đưa lên sóng của mình. Khi đã đầu tư bao công sức và tiền của, “Bảo tàng Vực Quành” được lên báo nhiều. Để tương xứng với “tầm vóc” sự quan tâm, bác Liên được tư vấn nâng “Bảo tàng Vực Quành” lên “Khu du lịch sinh thái văn hóa…”. Năm 2010, tỉnh Quảng Bình cấp “Giấy chứng nhận đầu tư” (GCNĐT) cho khu du lịch. Bác đã nộp GCNĐT cho Chi cục Thuế Đồng Hới. Theo luật đầu tư hiện hành, thì “Bảo tàng Vực Quành” được miễn tiền thuê đất (đầu tư) 10 năm. Thế mà Chi cục Thuế Đồng Hới lại đòi tiền thuê đất 2 năm 2010 và 2011 đến gần 800 triệu đồng. Bảo tàng Vực Quành, dù đã biết đến nhiều năm, du khách trong và ngoài nước đã đến thăm quan. Nhiều trường cũng đưa các em học sinh đến dã ngoại để giáo dục lịch sử bằng trực quan sinh động. Nhưng tất cả đều miễn phí. Thế thì lấy tiền đâu để bác Liên nộp cho Chi cục thuế Đồng Hới? Mấy hôm sau, ngồi cà-phê ở 81 Lý Thường Kiệt, Đồng Hới mình đưa câu chuyện này ra nói. Trong bàn, ngoài thằng bạn và mấy đứa, có chú em họ nhiều năm làm giám đốc Lâm trường Long Đại (Bảo tàng Vực Quành cũng thuộc địc bàn này) đưa ra bình luận. Nhiều đại gia nước ngoài vào thuê đất làm ăn như Coca Cola, Honda,.. lãi ầm ầm mà cũng được miễn tiền thuê đất. Cái bảo tàng văn hóa lịch sử của địa phương có chút xíu mà lại làm khó dễ. Chẳng qua chúng nó đòi ăn đó thôi ! Đó là lý do chính để công sức tiền của Bác Liên bao năm có cơ thành… phế tích. Mình lại nhớ câu nói của triết gia người Đa-ge-xtan, Abutalip, mà nhà văn Raxun Gamzatob dẫn lại: Nếu anh bắn vào quá khứ bằng súng lục thì tương lai sẽ bắn vào anh bằng đại bác! Thế hệ công chức trẻ sinh ra sau chiến tranh lại sống trong một xã hội ngày càng tao loạn về chuẩn mực lối sống, về giá trị đạo đức làm người thì làm sao mà có đủ nền tảng văn hóa để hiểu được giá trị di sản của cha ông ? Buồn quá bác Nguyễn Xuân Liên nhỉ? .. trời bắt đầu mưa lâm thâm thì "đoàn" ra về. Vừa đi hết khoảng trăm mét đường nhựa vô "bảo tàng" này thì mình thấy bên phải (hướng Đông) có con đường đất xe vô được... ... xe đã chạy quá một đoạn, nhưng mình bảo thằng bạn dừng xe để mình vô "trinh sát" trước. Vào đến cuối đường thì thấy... .. 2 cái cổng. Một cổng sắt kín mít và kiên cố. Một cổng gỗ đã đang mục nát.. Mình biết hướng của bảo tàng là phía cổng gỗ. Đẩy cửa đi vô thì thấy một gia đình đang chuẩn bị đám giỗ... Mình hỏi có lối đi qua bảo tàng không? Có bác Liên bên ấy không? ... chủ nhà nhiệt tình báo cho biết, bác Liên đã ra Hà Nội. Nếu mình muốn xem bảo tàng sẽ có người dẫn đi... Nhìn sang bên kia bảo tàng có một chiếc phà tự tạo bằng các thùng phuy và có một nàng Cún giống Nhật đang ve vẫy đuôi... (mai post ảnh tiếp, giờ đi ôm 3M đã

Chủ Nhật, 6 tháng 1, 2013

Những bài thơ về cuộc đời của tuổi hai lăm

KÍNH DÂNG HƯƠNG HỒN NHỮNG NGƯ DÂN CỒN SẺ (QUẢNG BÌNH) ĐÃ BỎ MÌNH TRÊN BIỂN ĐÔNG. Dâng tặng hương hồn những người đã nằm lại đáy biển khơi Những ngày buồn cùng nỗi buồn của người Cồn Sẻ, lang thang gặp bài thơ này trên trang của chị Phuong Dang Bich, được biết đây là bài thơ của Nồng Nàn Phố đăng trên FB. Thật lạ, sao có nhiều điều suy tư đến nao lòng giống mình . Chép về đây để qua tiếng thơ của Nồng Nàn Phố gửi một lời chia buồn cùng thân nhân những ngư dân quê nghèo đã bỏ mình trên biển Đông. Những bài thơ về cuộc đời của tuổi hai lăm Dâng tặng hương hồn những người đã nằm lại đáy biển khơi Em khóc gì đó em Có phải biển xanh đã cướp đi người cha không quen dạy em cách đánh vần mà chỉ trần mình ra hốt nắng, hốt cá, hốt vất vả quê hương Có phải mẹ đã đánh rơi chiếc nón lá trên dặm đường Khi gánh hàng giữa đêm khuya không đủ ấm để quay về Em khóc gì đó em Hãy cười lên nào, vì quanh em có vạn kẻ u mê Đang dành những giọt nước mắt mẹ cha cho để khóc cho một nhóm nhạc Hàn, một ngôi sao vừa chết, hay vé xem phim rạp A, B, C hết.. hay chỉ là thấy mệt khi không có xe hơi Những kẻ đang nằm, ngồi Nguyền rủa cuộc đời sao bất công, khiến đôi tay không thon thêm, mắt không hai mí, da không trắng, và tóc không mướt bóng... Vị kỷ Rỗng Cả một kiếp người Em khóc gì đó em Hãy nhoẻn cười Con nít có quyền được vui, sướng, không âu lo, không đau đớn Ở ngoài kia cha đang ru biển lớn Mẹ đang oằn vai gánh những ngả đường để em bớt thương đau Đừng làm cho giọt nước mắt nát nhàu Vì tuổi thơ ai cũng cần được hạnh phúc Trong một góc tối nào đó .... bạn đánh mất chính mình. Cũng nhờ vào đó, bạn thấy mình thật ngu ngốc. Bạn thấy còn nhiều người không thể nào bằng đụơc bạn. Khi bạn có cơm, bạn lại chê nhão bảo khét trong khi bao nhiêu người chết đói ? Bạn tự hủy hoại mình trong khi bao nhiêu người muốn lành lặn dù trong một bứơc chân họ đi ? Bạn có một gia đình, nhưng có lúc bạn lại chán chường về nó, dù trăm người chỉ mong một phút của bạn ! Ngôi nhà bạn quá nhỏ ? Ít ra nó to hơn tờ poster thằng bé ăn xin che cho đỡ uớt ! ....Có lẽ cuộc sống còn lắm bất công. Dù sao thì hãy sống và nhìn xung quanh, bạn nhé Trời ơi! Cha đang đổ sóng xanh lên ngọn hải âu trắng Mẹ ôm chiếc nón lá đi dọc bờ biển quệt mắt câm lặng Có lẽ... tết này nhà mình chẳng được vui Trời ơi! Cha nằm chênh vênh trên mui Chiếc thuyền bằng tuổi con mới hôm qua lũ bạn còn chơi trốn tìm trên đó Mắt mẹ đỏ Mắt con trơ đau Trời ơi Cha đang bình thản quấn lại tấm lưới nát nhàu Đi về đáy biển Mẹ đau điếng Gào lên như con quạ đói lòng Con phải nói gì với mùa đông Rằng cái lạnh của tháng 12 không bằng cái căm căm hôm nay con nhận được Trời ơi Từ nay sao con biết trước Tóc cha sẽ bạc, da cha sẽ nhăn nheo, má cha sẽ hóp như nào khi cung thời gian đi qua biển Chiếc nón lá để tang đen Con cột nỗi đau lên biển Cha ơi... Hãy trở về khi thấy con "lớn" nghen cha ... Biển chiều nay chẳng hiền hòa Chẳng rì rào phi lao Hay tiếng hải âu vỗ cánh Có một tiếng thì thào Ru con bằng bài ca cha gửi về từ đáy biển Nguồn: http://www.facebook.com/nong.n.pho/posts/188451354633423?comment_id=660652¬if_t=comment_mention

VỰC QUÀNH: TÌM LẠI DẤU XƯA CỦA MỘT THỜI ĐẠN BOM

VỰC QUÀNH: TÌM LẠI DẤU XƯA CỦA MỘT THỜI ĐẠN BOM Bác Nguyễn Xuân Liên thời "Vực Quành" còn sôi động... Bác Nguyễn Xuân Liên thời “Vực Quành” còn sôi động… Mình là dân Quảng Bình. Từ ngày 4 tháng 8 năm 1964 đã nghe tiếng ì ầm tàu bay và tàu chiến Mỹ trên bầu trời và ngoài biển Đông. Ngày hôm sau, mùng 5 tháng 8, đã phải núp bụi chuối và gốc cây lá kè (cọ) để trốn máy bay Mỹ. Cho đến hết năm 1972 mới vắng dần tiếng bom rơi, nhưng đạn (bom bi) vẫn còn nổ đến hơn chục năm nữa … Trừ 2 năm sơ tán ra Thọ Xuân, Thanh Hóa (1969-1970), thì mình “coi như là” lớn lên dưới thời bom đạn. Mình đã chứng kiến cảnh nhà tan cửa nát, làng xóm tan hoang và những cái chết tức tưởi. Thế nên ký ức về chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân Hoa Kỳ với “vùng lửa Quảng Bình – Vĩnh Linh” mình không bao giờ quên. Năm 2004, qua báo chí mình biết bác Nguyễn Xuân Liên bỏ công sức và tiền bạc tái hiện lại cuộc sống vùng đất lửa Quảng Bình những năm chiến tranh đó. Bác Nguyễn Xuân Liên, từ 1961 – 1970, đã bám trụ với ngành Y tế và người dân Quảng Bình. Như vậy bác đã sống ở tuyến lửa trọn cuộc chiến tranh phá hoại. Gần 10 năm bám trụ với mảnh đất Quảng Bình như là mối duyên nợ. Ký ức chiến tranh, cái tình của người dân Quảng Bình đẫm thấm vào máu thịt của bác. Như sợ bị các thế hệ sau lãng quên bác đã bán nhà ở thủ đô, chịu bao tiếng thị phi để vào Quảng Bình mua đất, thuê người lập và xây dựng nên bảo tàng “Quảng Bình thời máu lửa”. Gọi là “bảo tàng chiến tranh Vực Quành”. Về sau đổi tên thành “Khu du lịch sinh thái – văn hóa Vực Quành” (mình gọi tắt là Vực Quành). Báo chí đã viết nhiều về “Vực Quành” từ 10 năm nay. Ngay cả đài truyền hình NHK Nhật Bản cũng quay phim và đưa lên chường trình quốc tế ! (nhấn vào đây Mình “thoát ly” và sống xa quê từ 1977. Lâu lâu mới về quê khi có hiếu hỉ. Mình thuộc típ người hoài cổ. Về quê mình dắt con gái út đi theo. Vừa để thăm quê vừa cho con hiểu thêm về những vùng đất đã trải qua bom đạn thời chiến tranh. Năm 2009, hai cha con mình về quê để tang cho chị. Mình có ý định đưa cháu về thăm “Bảo tàng… Vực Quành” để “ôn cố tri tân”. Nhưng rồi không quay ra Đồng Hới, hai cha con theo anh trai làm chuyến “du lịch tự hành” vùng DMZ Đường 9 – Khe Sanh, thăm Lao Bảo – sân bay Tà Cơn, Dốc Miếu… Lần về quê cuối tháng này, cha con mình mới có buổi học lịch sử chiến tranh bằng “phương pháp trực quan” tại “bảo tàng chiến tranh Vực Quành” của Bác Nguyễn Xuân Liên. Ra Đồng Hới tối hôm trước, sáng hôm sau mình hỏi thằng bạn nối khố. Lên Vực Quành bao xa. Nó hỏi lại Vực Quành ở chổ mô. Có khu du lịch à? Mình bảo mãi lo làm ăn nên không biết “giáo dục lịch sử quê hương” cho con cái chi cả! Thực ra, thì nhiều người ở Đồng Hới, nhất là cán bộ chỉ đọc báo lề… đảng, ít người biết “bảo tàng chiến tranh Vực Quành” ngay chính quê mình. Khi nghe mình kể sơ sơ những gì mình biết về chuyện Bác Liên bỏ Hà Nội vô Quảng Bình xây dựng “bảo tàng chiến tranh”. Nó ngạc nhiên vô cùng. Hôm sau nó đánh xe chở mình cùng hai cô con gái út của hai đứa đi “học lịch sử một thời đạn bom” của Quảng Bình…. Đến đây mình kể câu chuyện “tìm lại dấu xưa của một thời đạn bom” bằng hình ảnh mà mình chụp được. 1. MÒ MẪM DÒ ĐƯỜNG.. Trồi âm u như báo hiệu đợt gió mùa đông bắc sắp về. T ừ trung tâm Đồng Hới lên tới đường 15 (bây giờ là Đường Hồ Chí Minh) khoảng 8 cây số. Lên đến đường 15 rẻ trái về Nam vừa đi vừa hỏi đường. Gặp người đi đường mới biết xe chạy lố gần môt cây số. Quay lại gặp đoạn đường nhựa có bảng hiệu cơ sở gạch tuy-nen thì theo đường đó. Đi hết đoạn đường nhựa khoảng một cây số thì gặp con đường này… … xen chạy thêm đoạn nữa chỉ thấy rừng thông hai bên mà không có bản hiệu “bảo tàng” hay “khu du lịch sinh thái” gì cả…. … gặp một cháu công nhân đang lấy nhựa thông, cháu cho biết quay xe lại gặp cái cổng bên phải chính là cổng vào… A, đây rồi! Mình vạch lá bụi dây leo mới thấy cái biển hiệu: “Khu du lịch sinh thái văn hóa – lịch sử Vực Quành”, bằng hai thứ tiếng Việt – Anh xe không vào được, đành để ngoài. Mấy bà con lội vô xem với tâm trạng…. … xót xa và hụt hẩng. Mình cố sục sạo tìm lối đi sâu hơn nữa. Thằng bạn và hai bé thì thẩn thơ với hoa dại và cỏ trinh nữ… .. và dấu tích hố bom còn sót lại. Xung quanh cây trinh nữ trùm kín và nở hoa … … khung nhà cháy… … và bảng giới thiệu tóm tắt lịch sử chiến tranh ở Vực Quanh… .. theo lối mòn mình thấy một bến nước. Chắc bên kia mới là khu chính đang có người trong coi… … trời bắt đầu mưa lâm thâm. Cả “đoàn” ra xe mà cô con gái của thằng bạn như còn luyến tiếc…. (còn nữa… khuya rồi, ngủ đã, mai còn đi làm…)

Thứ Sáu, 4 tháng 1, 2013

Họp bàn biện pháp phối hợp tìm kiếm ngư dân gặp nạn trên biển

Họp bàn biện pháp phối hợp tìm kiếm ngư dân gặp nạn trên biển (Website Quảng Bình) - Chiều ngày 03-01-2013, Ban Chỉ huy Phòng chống lụt bão và tìm kiếm cứu nạn (PCLB và TKCN) tỉnh đã tổ chức buổi họp bàn biện pháp phối hợp tìm kiếm ngư dân gặp nạn trong vụ chìm tàu cá mang số hiệu QB 93714 TS và tàu QB 93469TS mất tích vừa qua. Đồng chí Trần Văn Tuân, Phó Chủ tịch UBND tỉnh chủ trì cuộc họp. Theo báo cáo của lãnh đạo huyện Quảng Trạch, ngày 30/12/2012, tàu cá mang số hiệu QB 93714TS do anh Nguyễn Phong (Cồn Sẻ, Quảng Lộc, Quảng Trạch) đang trên đường vào trú ẩn thì đã bị sóng đánh chìm tại vị trí cách cửa Gianh khoảng 7 hải lý, trên tàu có 14 ngư dân (hiện mới tìm được thi thể của một ngư dân là anh Mai Khương Duy). Tiếp đó, ngày 02/01/2013, tàu cá mang số hiệu QB 93469TS do anh Nguyễn Đức Thắng ở xã Quảng Minh (Quảng Trạch) làm thuyền trưởng được báo là mất tích đã 03 ngày. Chiều tối ngày 02/01/2012, các đơn vị đã trục vớt được Tàu cá QB 93714TS nhưng không tìm thấy thêm thi thể ngư dân nào. Hiện các cơ quan chức năng đang huy động lực lượng phối hợp triển khai công tác cứu hộ, tìm kiếm các nạn nhân còn lại. Tại buổi họp, đại diện lãnh đạo các sở, ngành, địa phương liên quan đã dành nhiều thời gian bàn các giải pháp, phương án tìm kiếm ngư dân và tàu cá đang mất tích, trong đó tập trung nâng cao hiệu quả công tác phối hợp giữa các lực lượng chức năng nhằm nâng cao hiệu quả công tác tìm kiếm. Phát biểu tại buổi họp, Phó Chủ tịch UBND tỉnh chỉ đạo lực lượng Bộ đội Biên phòng tỉnh duy trì hoạt động của tàu Hải đội 2 và tăng cường lực lượng các đồn Biên phòng tuyến biển phối hợp với ngư dân, chính quyền địa phương huyện Quảng Trạch tiếp tục các hoạt động tìm kiếm. Cảng vụ Quảng Bình có nhiệm vụ hướng dẫn tàu các cơ quan, đơn vị chức năng tham gia tìm kiếm trên biển. Công an tỉnh huy động lực lượng phối hợp đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn, đặc biệt là 2 địa phương có tàu bị chìm và mất tích. Các địa phương từ Quảng Trạch đến Lệ Thủy phối hợp tìm kiếm các ngư dân mất tích. UBND tỉnh sẽ gửi công văn đến tất các các tỉnh ven biển trong toàn quốc, đề nghị hỗ trợ tìm kiếm cứu nạn. Bên cạnh đó, tỉnh cũng sẽ hỗ trợ 330 triệu đồng cho công tác trục vớt tàu cá bị nạn và các lực lượng chức năng tham gia công tác tìm kiếm ngư dân và tàu cá đang mất tích. Ngọc Hà

Thứ Năm, 3 tháng 1, 2013

Bài diễn văn của ông thợ cạo trong vị thế một nhà độc tài vĩ đại bất đắc dĩ

Bài diễn văn của ông thợ cạo trong vị thế một nhà độc tài vĩ đại bất đắc dĩ

Bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn

Lời người dịch:
 
The Great Dictator (Nhà độc tài vĩ đại) là một cuốn phim khôi hài của Charlie Chaplin. Được trình chiếu lần đầu vào tháng 9 năm 1940 tại New York, rồi xuất hiện tại nhiều rạp cinema trên khắp nước Mỹ vào tháng 10, và đến với công chúng của nước Anh vào tháng 11 năm ấy. Sau đó, cuốn phim được trình chiếu ở Pháp vào tháng 4 năm 1945, ngay trước khi Thế Chiến II kết thúc.
 
Đây là cuốn phim “nói” đầu tiên của Charlie Chaplin và được xem là tác phẩm điện ảnh thành công nhất của ông. Trong phim có rất nhiều đoạn tuyệt vời, nhưng đoạn gây xúc động và để lại ấn tượng sâu đậm nhất trong tôi là đoạn ông thợ cạo (do chính Chaplin đóng) bị nhận diện nhầm là nhà độc tài vĩ đại (cũng do chính Chaplin đóng), và bị mời lên khán đài để đọc một bài diễn văn được truyền thanh khắp thế giới. Trong vị thế một nhà độc tài vĩ đại bất đắc dĩ, ông thợ cạo bắt đầu bài diễn văn của ông với vẻ do dự, nhưng càng diễn đạt tư tưởng của mình thì ông càng trở nên lưu loát hơn, và giọng nói của ông càng lúc càng mạnh mẽ, quyết liệt, đầy xúc cảm và sức thuyết phục.
 
Đây là một bài diễn văn tuyệt vời được trình diễn một cách tuyệt vời bởi thiên tài Charlie Chaplin. Ở thế kỷ 21, chúng ta có thể cho rằng một số ý tưởng trong bài diễn văn này không còn mới mẻ. Tuy nhiên, là một người Việt Nam trong thời điểm này, tôi cảm thấy xúc động sâu xa mỗi lần nghe lại những đoạn cuối cùng trong bài diễn văn của ông thợ cạo.
 
Tôi xin gửi đến các bạn bản dịch Việt ngữ của bài diễn văn, và mời các bạn cùng xem lại đoạn phim này trên Youtube, theo link dưới đây:


BÀI DIỄN VĂN CỦA ÔNG THỢ CẠO
TRONG VỊ THẾ MỘT NHÀ ĐỘC TÀI VĨ ĐẠI BẤT ĐẮC DĨ

Tôi xin lỗi. Tôi không muốn làm một đại đế. Đó không phải là công việc của tôi. Tôi không muốn thống trị hay chinh phạt ai cả. Trong khả năng của mình, tôi muốn giúp đỡ mọi người — Do-thái, không Do-thái, da đen, da trắng.
Tất cả chúng ta đều muốn giúp đỡ nhau. Con người là như thế. Chúng ta muốn sống vì niềm vui của nhau — không phải vì nỗi khốn khổ của nhau. Chúng ta không muốn thù ghét và khinh bỉ nhau. Thế giới này có đủ chỗ cho mọi người và quả đất tốt lành này thì giàu có và có thể nuôi sống mọi người.
Con đường của sự sống có thể là tự do và đẹp đẽ, nhưng chúng ta đã đánh mất con đường ấy. Sự tham lam đã đánh độc tâm hồn con người, đã vây hãm thế giới trong sự oán thù, đã xua chúng ta dấn bước vào sự lầm than và đổ máu. Chúng ta đã phát triển tốc độ, nhưng chúng ta đã giam hãm chính mình. Máy móc đáng lẽ mang đến cho chúng ta sự dư dật, thì lại khiến chúng ta đói rách. Sự hiểu biết của chúng ta đã làm chúng ta trở nên chua cay; sự khôn khéo của chúng ta đã làm chúng ta trở nên khắc nghiệt. Chúng ta suy nghĩ quá nhiều và cảm nhận quá ít. Hơn cả máy móc, chúng ta cần tình người. Hơn cả sự khôn khéo, chúng ta cần sự tử tế và sự dịu dàng. Không có những phẩm tính này, cuộc sống sẽ trở nên cuồng bạo và chúng ta sẽ đánh mất tất cả.
Máy bay và máy truyền thanh đã mang chúng ta đến gần nhau hơn. Bản chất của những phát minh này đòi hỏi thiện tâm của con người, đòi hỏi tình anh em trong nhân loại, đòi hỏi sự hợp quần của tất cả chúng ta. Ngay trong giây phút này tiếng nói của tôi đang đến với hàng triệu người trên khắp thế giới — hàng triệu người đàn ông, đàn bà, và trẻ con đang tuyệt vọng — những nạn nhân của một hệ thống — cái hệ thống đã sai khiến những kẻ hành hạ và giam cầm những người vô tội. Đối với những ai có thể nghe tôi, tôi nói: “Đừng tuyệt vọng.” Sự khốn khổ hôm nay đang đè nặng trên chúng ta chỉ là khoảnh khắc ngắn ngủi của sự tham lam, chỉ là sự cay đắng của những kẻ sợ hãi trước sự tiến bộ của nhân loại. Lòng thù hận của con người sẽ trôi qua, và những tên độc tài sẽ chết, và cái sức mạnh mà họ chiếm đoạt từ con người sẽ trở lại với con người. Và đến khi con người còn phải chết đi, thì khi ấy tự do vẫn không hề tàn lụi.
Các chiến sĩ! Đừng nạp mình cho những con thú — những kẻ khinh bỉ các bạn và bắt các bạn làm nô lệ, những kẻ đặt cuộc sống của các bạn vào hệ thống, điều khiển hành động của các bạn, ý nghĩ của các bạn và cảm xúc của các bạn! Những kẻ trui rèn các bạn, kiểm soát khẩu phần của các bạn, xem các bạn như trâu bò, dùng các bạn như những con cờ thí. Đừng nạp mình cho những kẻ quái đản ấy, những con người máy móc với những đầu óc máy móc và những trái tim máy móc! Các bạn không phải là máy móc! Các bạn không phải là trâu bò! Các bạn là những con người! Các bạn có tình yêu nhân loại trong tim. Các bạn không thù hận. Chỉ những kẻ không được yêu thương thì mới thù hận. Đó là những kẻ không có tình thương và những kẻ quái đản!
Hỡi các chiến sĩ! Đừng chiến đấu cho sự nô lệ! Hãy chiến đấu cho sự tự do! Chương thứ 17 của sách thánh Luca có viết rằng vương quốc của Thượng Đế thì ở trong con người, không chỉ trong một người hay một nhóm người, mà trong mọi con người! Trong các bạn! Các bạn, là nhân dân, các bạn có sức mạnh — cái sức mạnh để sáng tạo ra máy móc. Cái sức mạnh để sáng tạo ra hạnh phúc! Các bạn, là nhân dân, các bạn có sức mạnh để làm cho cuộc sống này tự do và đẹp đẽ, để làm cho cuộc sống này trở thành một cuộc phiêu lưu tuyệt vời. Thế thì, nhân danh dân chủ, chúng ta hãy sử dụng sức mạnh đó. Tất cả chúng ta hãy đoàn kết lại. Chúng ta hãy chiến đấu cho một thế giới mới, một thế giới tốt lành nơi đó con người sẽ có một cơ hội để làm việc, tuổi trẻ sẽ có một tương lai và tuổi già sẽ được an dưỡng.
Bằng lời hứa hẹn về những điều này, những con thú đã nổi lên nắm lấy quyền lực. Nhưng chúng chỉ nói láo! Chúng không giữ lời hứa. Chúng sẽ không bao giờ giữ lời hứa! Những tên độc tài giành lấy tự do cho chính họ nhưng lại bắt nhân dân làm nô lệ. Giờ đây chúng ta hãy chiến đấu để thực hiện lời hứa đó! Chúng ta hãy chiến đấu để làm cho thế giới được tự do, để xoá bỏ những biên cương quốc gia, để xoá bỏ lòng tham lam, hận thù và bất dung. Chúng ta hãy chiến đấu cho một thế giới hữu lý, một thế giới trong đó khoa học và sự tiến bộ sẽ mang hạnh phúc đến cho mọi con người.
Hỡi các chiến sĩ! Nhân danh dân chủ, hãy đoàn kết lại!

Việt - Trung: 'Những điều không thể không nói'

TuanVietNam

  • 4/1/2013 02:00

Việt - Trung: 'Những điều không thể không nói'

 5 0  12345
Làm cho nhân dân hai nước hiểu được, hiểu đúng mối quan hệ lịch sử này là một việc làm cần thiết, thậm chí rất cần thiết trong bối cảnh hiện nay.
Có thể khẳng định, quan hệ hai nước Việt Nam và Trung Quốc là một mối quan hệ đặc biệt. Nó đặc biệt ở sự gần gụi, tương đồng. Không chỉ tương đồng về chế độ chính trị, về phương thức tổ chức xã hội và phát triển kinh tế trong thời kỳ hiện đại mà trước hết ở sự gần gụi láng giềng, ở sự gần gụi văn hóa, lịch sử. Ít  nhất mối quan hệ này đã tồn tại từ khi lịch sử thành văn được ghi lại, hơn hai ngàn năm trước.
Một ví dụ là ngay từ thời Tần Thủy Hoàng đã lưu truyền câu truyện về tướng Lý Ông Trọng, một người to lớn dị thường và có tài thao lược của đất Giao Chỉ, làm đến chức Tư lệ hiệu úy của nước Tần, giúp Hoàng đế dẹp loạn miền Tây Vực khiến quân Hung nô còn khiếp oai ngay cả khi ông đã nằm xuống.
Làm cho nhân dân hai nước hiểu được, hiểu đúng mối quan hệ lịch sử này là một việc làm cần thiết, thậm chí rất cần thiết trong bối cảnh hiện nay, khi mà những sự tranh chấp về lợi ích lãnh thổ có nguy cơ vượt khỏi tầm kiểm soát và phủ mây đen lên mối quan hệ ấy.
Trong tinh thần đó, chúng tôi hoan nghênh loạt bài viết dưới mái chung: "Những điều không thể không nói ra" mà Tạp chí "Tri thức thế giới" của Trung Quốc đăng tải vào dịp này năm ngoái. Đó là các bài: "Lịch sử và sự thật: Diễn biến quan hệ Trung - Việt trước năm 1949" (Tôn Hồng Niên, Nghiên cứu viên Trung tâm Nghiên cứu lịch sử biên cương, Viện KHXH Trung Quốc) - "Quan hệ Trung - Việt từ 1949 đến nay" ( Vu Hướng Đông, Giám đốc Học viện Chủ nghĩa Mác, Chủ nhiệm Phòng Nghiên cứu Việt Nam, Đại học Trịnh Châu) - "Những biến thiên trăm năm qua trong chiến lược ngoại giao với các nước lớn của Việt Nam" (Tôn Hồng Niên, Vương Thâm, Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam, Đại học Trịnh Châu) - "Viện trợ Trung Quốc cho Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ" (Lục Đức An, Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam, Đại học Trịnh Châu) và "Vấn đề biên giới trên đất liền và trên biển giữa Việt Nam với các nước láng giềng Đông Nam Á" (Trương Minh Lượng, Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, Đại học Tế Nam).
Tất cả được đăng trong số 14, ra tháng 7 năm 2011. Như cách đặt vấn đề và như chúng tôi có thể hiểu, các tác giả muốn vẽ lên một bức tranh chân thực về những gì diễn ra trước hết trong quan hệ Việt - Trung, và sau nữa là trong quan hệ giữa Việt Nam với các nước láng giềng, qua đó góp phần điều chỉnh nhận thức của người này người khác, ở phía bên này hoặc bên kia.Ý định ấy là tốt và cần thiết. Lời lẽ trong các bài viết cũng tương đối vừa phải, trừ vài ngoại lệ.
Tuy nhiên, hoặc do quan điểm, nhận thức, hoặc do nguồn tư liệu dựa vào thiếu khách quan, nhiều nội dung trong loạt bài này đã không phản ánh sự thật, làm hỏng mục đích mà người viết có thể muốn đặt ra.
Vì một số lý do, trong khuôn khổ bài viết này chúng tôi chưa có ý định trao đổi toàn bộ và triệt để các vấn đề mà "Những điều không thể không nói ra" đã đề cập. Chúng ta còn có nhiều dịp và nhiều cách để cùng nhau tìm đến sự thật.
*   *
1.  Lịch sử thành văn của nước Việt - nghĩa là những điều được ghi lại trên giấy trắng mực đen - xuất hiện khá muộn, hàng ngàn năm sau công nguyên. Hai lý do chủ yếu: chữ viết xuất hiện muộn và cả một thiên niên kỷ mất độc lập được gọi là "thời kỳ Bắc thuộc" - một ngàn năm Bắc thuộc. Lịch sử Việt Nam trong những năm tháng này còn là một phần lịch sử Trung Hoa, điều dù muốn hay không cũng phải thừa nhận. Và dù muốn hay không cũng phải thừa nhận, với Việt Nam một ngàn năm ấy là một ngàn năm không bình yên, nói một cách khiêm tốn.
Liệu có cần thiết phải nhắc lại những chuyện " sát phu, hiếp phụ", "bỏ xác cho hổ đói lên rừng bắt chim chả, chặt ngà voi; chịu để giao long ăn thịt xuống biển mò ngọc trai, kiếm đồi mồi" cung phụng các quan cai trị? Rồi một ngàn năm độc lập, những cuộc xâm lược từ phương Bắc đã để lại những gì tưởng chỉ cần nhắc đến một câu của thi hào Nguyễn Trãi thế kỷ thứ XV, "Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn / Vùi con đỏ dưới hầm tai họa", viết trong " Đại cáo bình Ngô".
Những cuộc xâm lược của Tống, Nguyên, Minh, Thanh trong kỷ nguyên độc lập của Việt Nam đều hết sức khốc liệt, đâu có phải quan hệ giữa hai nước trong thời kỳ này"trên tổng thể là hòa bình, hữu nghị". Tác giả của "Diễn biến quan hệ Việt - Trung trước năm 1949"chỉ thừa nhận một cuộc xâm lược đến từ phía Bắc, đó là cuộc xâm lược của nhà Nguyên trong thời kỳ này (và lịch sử chính thống của Trung Quốc cũng chỉ thừa nhận như vậy) còn thì "phần nhiều những cuộc xung đột và chiến tranh giữa hai nước là do giới phong kiến Việt Nam quấy nhiễu biên giới Trung Quốc gây ra".
Cần phải nói rõ những điều này. Một, chỉ một lần duy nhất nhà nước phong kiến Việt Nam có cuộc Bắc phạt và cũng chỉ với một mục đích duy nhất là phá cuộc chuẩn bị xâm lược Việt Nam của nhà Tống. Đó là vào ngay thời kỳ đầu sau Bắc thuộc, năm 1075, nhà Lý (Việt Nam) phát hiện nhà Tống (Trung Quốc) lập các tiền đồn tích trữ  binh lương ở Quảng Tây nhằm chuẩn bị tiến đánh "Giao Châu" (nước Việt) nên đã xuất quân, đánh xong lập tức rút ngay về phòng ngự mà vẫn không tránh khỏi cuộc tiến quân ồ ạt sau đó của nhà Tống.
"Hoàn thành phân giới cắm mốc biên giới". Tác giả: Nhan Sáng/ Ảnh đoạt giải cuộc thi Khoảnh khắc vàng
Hai, có lẽ chỉ dựa vào chính sử do các triều đại phong kiến Trung Quốc để lại mà các tác giả của "Những điều không thể không nói ra" không thừa nhận có các cuộc xâm lược Việt Nam của Tống, Minh, Thanh. Bởi vì "chính sử" luôn tìm cách mô tả đấy là những cuộc hành binh khôi phục trật tự, lập lại ngôi vương chính danh được các triều đình phong kiến Trung Quốc thừa nhận (nhưng là những phế để, phế triều đã bị sóng triều lịch sử Việt Nam gom về bến rác).
Sự thực như thế nào? Lấy ví dụ cuộc tiến quân dưới danh nghĩa "phù Trần, diệt Hồ" của nhà Minh đầu thế kỷ XV. "Phù Trần diệt Hồ" ở chỗ nào khi diệt xong cha con Hồ Quý Ly rồi liền bắt các kỳ hào, bô lão ký vào một tờ biểu dâng lên rằng: "Nay họ Trần không còn ai nữa, vả đất An Nam vốn là Giao Châu ngày trước, xin được đặt lại quận huyện như cũ" (theo "Minh sử").
Nhưng có một thực tế là con cháu nhà Trần vẫn nổi lên ầm ầm chống lại quân Minh, lập nên một triều đại được lịch sử gọi là "kỷ Hậu Trần" thì người Minh lại gọi là "giặc" và phái binh đàn áp! Một thời kỳ "Bắc thuộc mới" kéo dài 20 năm với chính sách đồng hóa quyết liệt (tất cả sử sách nước Nam đều bị thu hết về Kim Lăng), với sưu cao thuế nặng, bắt phu khai mỏ vàng mỏ bạc rồi "chim chả, ngà voi" tận thu tận diệt khiến dân tình vô cùng khổ sở. Phải một cuộc kháng chiến gian khổ máu xương dằng dặc 10 năm của Lê Lợi - Nguyễn Trãi cuối cùng mới đưa được "cuộc phù Trần" về bên kia biên giới.
Làm sao có thể nói trong kỷ nguyên độc lập của Việt Nam ở thiên niên kỷ thứ hai, "giới thống trị Trung Quốc bấy giờ hoàn toàn không chủ động can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam" được? Và ngay trong thời kỳ được coi là giao kết hòa hiếu giữa hai nước trong quan hệ "tông phiên" thì các triều đình phong kiến Việt Nam vẫn luôn bị sách nhiễu, áp lực.
Chỉ riêng việc đòi hỏi cung phụng, cống nạp - nhất là những sản vật quý hiếm - cũng trở thành gánh nặng tài chính cho nước Việt, gánh nặng khổ ải cho thứ dân, không thể nói là "không đáng kể", "tổng giá trị (của các đồ cống nạp) luôn thấp hơn đồ "hồi tặng" (từ phía triều đình Trung Quốc)" được.
Năm 1950, khi đích thân tiếp và tiễn đoàn cố vấn quân sự của nước Trung Hoa nhân dân sang giúp Việt Nam kháng Pháp, Chủ tịch Mao Trạch Đông căn dặn: "Các đồng chí phải nói với nhân dân Việt Nam rằng tổ tiên chúng ta đã có lỗi với Việt Nam, chúng ta xin tạ tội và nguyện một lòng một dạ ra sức giúp Việt Nam đánh bại thực dân Pháp" (trích Hồi ký xuất bản bằng tiếng Hán của các Cố vấn Trương Quang Hoa, Vũ Hóa Thẩm, Đặng Kim Ba).
Thủ tướng Chu Ân Lai trong lần đầu tiên sang thăm Việt Nam năm 1955, việc đầu tiên mà ông làm là đến thắp hương Đền thờ Hai Bà Trưng, những nữ tướng Việt Nam kiệt xuất trong thế kỷ thứ nhất cầm quân nổi dậy chống quân xâm lược nhà Hán và đã anh dũng hy sinh. Thiết nghĩ không cần phải dẫn thêm những ý kiến phát biểu của các nhà lãnh đạo khác như Diệp Kiếm Anh, Vi Quốc Thanh... xung quanh vấn đề này.
Tuy nhiên, cũng cần phải khẳng định, mối quan hệ tổng thể giữa hai nước láng giềng Việt Nam và Trung Quốc suốt mấy ngàn năm lịch sử không phải là một bức tranh tối màu, nhất là quan hệ dân gian. Trong sự phát triển và trưởng thành của mình, người Việt, nước Việt đã tiếp thu và học tập được nhiều từ nền văn hóa - văn minh Trung Hoa. Đấy cũng là một trong nguyên nhân dẫn đến sự gần gụi, hiểu biết giữa nhân dân hai nước. Đấy cũng là thực tế hiển nhiên không thể phủ định. Không thể có chuyện giới nghiên cứu khoa học, nghiên cứu lịch sử Việt Nam trong trăn trở tìm về nguồn cội lại bỏ qua những giá trị xác định để thay bằng những lập luận"khoác lác", "hư cấu"? Càng không thể tưởng tượng ra rằng nó có mục đích "đưa vào nội dung giáo dục quốc dân" để làm băng hoại quan hệ hữu nghị giữa hai nước, hai dân tộc.
2.    Nửa sau của thế kỷ trước (thế kỷ XX), Việt Nam đã phải liên tục chiến đấu chống lại hai cuộc chiến tranh không cân sức: Kháng Pháp và kháng Mỹ. Cùng với nhân dân toàn thế giới, Trung Quốc đã có sự ủng hộ và giúp đỡ to lớn, có hiệu quả về cả vật chất lẫn tinh thần cho cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam. Vào thời kỳ cao điểm, khi Mỹ trực tiếp đổ quân vào tham chiến - có lúc lên đến hơn nửa triệu - nhiều chính phủ và tổ chức nhân dân trên thế giới đã tuyên bố sẵn sàng gửi quân chí nguyện đến giúp đỡ Việt Nam, nếu được phía Việt Nam chấp nhận.
Với tinh thần tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính và cũng xét tới các hệ lụy, Chính phủ Việt Nam không chủ trương nhận quân tình nguyện chiến đấu, đặc biệt là bộ binh, và đã bày tỏ sự cảm ơn chân thành của mình đến thiện chí năm châu. Những quân nhân nước ngoài có mặt ở phía Bắc Việt Nam lúc ấy bao gồm một số lượng hạn chế các cố vấn và chuyên gia quân sự Liên Xô trong các binh chủng kỹ thuật (tên lửa phòng không, không quân ...), một vài biên đội không quân của CHDCND Triều Tiên mà lãnh đạo nước này mong muốn được đưa sang để thực tập chiến đấu.
Chính phủ Trung Quốc cũng đã nhiều lần bày tỏ thiện chí sẵn sàng gửi quân tình nguyện đến Việt Nam trong các tuyên bố công khai cũng như trong những lần gặp gỡ trực tiếp lãnh đạo Việt Nam. Kết quả là đã dẫn tới các ký kết giữa hai nước về việc đưa bộ đội hậu cần (công binh) của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc vào giúp việc khắc phục giao thông bị phá hoại bởi cuộc chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ ở Miền Bắc.
Trung Quốc cũng đề nghị đưa vào cả bộ đội pháo cao xạ để bảo vệ lực lượng công binh tác nghiệp. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất quan tâm đến lực lượng này. Người yêu cầu các nhà lãnh đạo Quân đội Việt Nam không đưa bộ đội Trung Quốc đến những vùng quá khó khăn ác liệt vì bạn chưa quen.
Thời kỳ đó, không quân Mỹ chia chiến trường Bắc Việt Nam thành ba vùng tác chiến: Vùng đánh phá tự do suốt ngày đêm từ Thanh Hóa trở vào vĩ tuyến 17, là vùng ác liệt nhất. Vùng thứ hai, vùng đánh phá có trọng điểm bao gồm Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định và các vị trí chiến lược phía nam đường số 5. Vùng thứ ba, đánh phá có chọn lọc, là các tuyến giao thông phía bắc đường số 5.
Chấp hành chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, bộ đội Trung Quốc đã được bố trí tác nghiệp trong vùng từ phía bắc đường số 5 đến biên giới Việt - Trung. Các lực lượng chí nguyện Quân Giải phòng Trung Quốc đã chiến đấu, phục vụ chiến đấu dũng cảm, quên mình vì nghĩa lớn, đồng cam cộng khổ với nhân dân Việt Nam, không chỉ góp phần khắc phục đường sá bị phá hoại, giúp Việt Nam làm mới nhiều con đường, nhiều công trình mà còn tham gia chiến đấu, trực tiếp bắn rơi hơn 100 máy bay Mỹ. Tổng cộng đã có hơn 310.000 lượt bộ đội Trung Quốc có mặt trên chiến trường miền Bắc Việt Nam từ năm 1965 đến năm 1968 (nói chung, 6 tháng thay quân một lần) trong đó hơn 1000 chiến sĩ hy sinh (hơn 4000, bao gồm cả các chiến sĩ bị thương).
Theo đề nghị của phía Trung Quốc, các liệt sĩ Trung Quốc đã được chôn cất tại trên 40 nghĩa trang ở Việt Nam và hiện nay vẫn được chính quyền và nhân dân các địa phương coi sóc, tu tạo.
3. Phía Trung Quốc từng xuất bản một cuốn sách công bố 7 lần xuất quân ra nước ngoài của Quân Giải phóng Nhân dân từ sau ngày thành lập nước CHND Trung Hoa, trong đó quá nửa là xuất quân sang Việt Nam. Điều đau lòng là, hầu hết những lần xuất quân đến Việt Nam ấy đều được mô tả là để "đánh trả", "trừng phạt" cái quốc gia mà Trung Quốc từng coi là anh em (đến bây giờ có lẽ vẫn là "anh em" vì lãnh đạo hai bên nói chung vẫn ôm hôn nhau theo kiểu "các nước anh em" thường làm).
Chúng tôi sẽ không đề cập đến ở đây bản chất các cuộc "đánh trả""trừng phạt" ấy - xin trở lại một dịp khác, nếu cần thiết - mà chỉ xin trao đổi những gì liên quan được nêu ra từ các bài viết trong "Những điều không thể không nói ra".
Thứ nhất, phải khẳng định rằng, trừ cuộc "tiến quân" trong giai đoạn 1965 -1968 nhằm chi viện nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ mà tôi vừa đề cập, tất cả các cuộc tiến quân khác (1974: đánh chiếm Hoàng Sa - Trung Quốc gọi là Tây Sa; 1979: Chiến tranh biên giới Việt - Trung; 1983 - 1984: đánh chiếm các điểm cao chiến lược ở tỉnh Hà Giang - Trung Quốc gọi là Lão Sơn (và xung quanh); 1988: đánh chiếm một số đảo ở Trường Sa - Trung Quốc gọi là Nam Sa) đều do Trung Quốc âm thầm khởi binh rồi bất ngờ đánh úp, nhằm lúc đối phương chưa sẵn sàng chuẩn bị. Tất cả đều giống nhau, không ngoại lệ. Làm gì có cái gọi là "sự xâm lăng, khiêu khích từ phía Việt Nam"? Mưu kế chiến tranh từ thời Tôn Tử đã chẳng lạ gì phương sách mà sau này L.Hart và nhiều tác gia quân sự đông tây phải ngả mũ, "Nguyên cớ ư ? Ở ta!"
Thêm nữa, sau năm 1975, mặc dù giành được nguyện vọng ngàn đời là độc lập dân tộc, thống nhất non sông, Việt Nam hoàn toàn bị kiệt quệ bởi ba mươi năm chiến tranh (nền kinh tế Việt Nam bị tụt đến đáy trong thập niên 75 - 85 là một minh chứng). Lo ăn, lo mặc cho dân mình còn chưa xong lẽ nào Việt Nam còn muốn mang sức kiệt đi đánh nước người? Mà đó lại là quốc gia hùng mạnh Trung Quốc và còn hơn thế nữa, một đất nước đã có sự ủng hộ to lớn cho Việt Nam trong kháng chiến! Ơn vừa mới đó mà đã quên được ư? Trọng ơn là truyền thống của dân tộc này, không ai có thể bới ra được chứng cứ ngược lại!
Và do đó phải thừa nhận là Việt Nam đã bị bất ngờ khi cuộc chiến tranh tháng 2/1979 xảy ra. Có thể có xung đột cường độ thấp nhưng là cả một cuộc chiến tranh với sự tiến quân ồ ạt của hàng chục sư đoàn đối phương trên toàn tuyến biên giới là điều chưa được phía Việt Nam tiên liệu.
Thứ hai, cần phải nói rõ một điều: Việt Nam chưa bao giờ tuyên bố Trường Sa và Hoàng Sa (Nam Sa và Tây Sa) là của một quốc gia nào khác ngoài Việt Nam. Và càng không có việc Việt Nam đã "hoàn toàn thay đổi lập trường" về vấn đề này. Câu chuyện như sau: Năm 1958, sau khi Trung Quốc tuyên bố chủ quyền về lãnh hải 12 hải lý, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã gửi thư cho Thủ tướng Chu Ân Lai bày tỏ sự ủng hộ tuyên bố ấy, chỉ đơn giản như vậy. Sự ủng hộ đó là thiện chí nếu tính tới cuộc xung đột giữa nước Trung Hoa nhân dân với Đài Loan trong vùng Kim Môn, Mã Tổ lúc bấy giờ. Còn trong năm 1974, khi xảy ra sự việc Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa (Tây Sa), chính các bên đang quản lý thực tế vùng biển này là Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Cộng hòa đã lên tiếng phản đối.
Thứ ba. Bắt đầu từ sự xâm lược của thực dân Pháp thế kỷ XIX lập nên xứ Đông Dương thuộc Pháp rồi tiếp đến là cuộc chiến tranh do Mỹ gây ra giữa thế kỷ XX mà mà vận mệnh của ba nước Đông Dương gắn chặt với nhau: chung một kẻ thù, chung một mục đích giải phóng và độc lập dân tộc. Trong cuộc đấu tranh chung, Việt Nam đã nhận được sự ủng hộ và giúp đỡ to lớn của nhân dân Lào, nhân dân Campuchia anh em và Việt Nam cũng hết lòng vì đất nước và nhân dân bạn. Làm theo lời dạy đầy ý nghĩa của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Giúp bạn là giúp mình", hàng chục vạn chiến sĩ Quân tình nguyện Việt Nam đã không tiếc xương máu chiến đấu quên mình trên đất nước Lào và đất nước Campuchia, không nhằm một mục đích tiểu bá, đại bá hay Liên bang Đông Dương nào hết.
Một khi chiến tranh kết thúc, tình hình yên ổn trở lại và được nhân dân bạn cho phép, tất cả các lực lượng này đã rút hết về nước, bao gồm cả những liệt sĩ đã nằm xuống trên đất Lào, Campuchia cũng được quy tập về đất mẹ Việt Nam (con số được quy tập đến nay đã là gần 50.000 liệt sĩ). Việt Nam, Lào, Campuchia ngày nay lại cùng đoàn kết, giúp đỡ nhau phát triển đất nước mình, với tư cách là những quốc gia độc lập, có chế độ chính trị riêng biệt, điều mà cả thế giới đều thấy rõ.
Đáng ngạc nhiên là trong bài "Vấn đề biên giới trên bộ và trên biển giữa Việt Nam và các nước Đông Nam Á", tác giả gợi lại vấn đề không có thực là "lãnh thổ K.K.K""một phần đất đai Campuchia bị mất vào tay Việt Nam". Với mục đích gì vậy? Tác giả có biết rằng trong tháng 8 năm 2012 vừa qua chính đại diện của nước CHND Trung Hoa tại Liên Hợp quốc đã bỏ phiếu bác bỏ yêu cầu được có tiếng nói tại tổ chức quốc tế này của cái gọi là "phong trào K.K.K"? Sự trung thực cộng sản - nếu có thể gọi như vậy - là ở chỗ nào?
Thứ tư. Có những sự thực ít người biết đến, nhưng chẳng lẽ những người chủ trì một tạp chí có tên tuổi trong ngành như "Thế giới tri thức" lại ở trong trường hợp như vậy? Tôi muốn đề cập câu chuyện về điểm cao khống chế 1509 mà Trung Quốc gọi là Lão Sơn. Trong bài "Quan hệ Việt - Trung từ năm 1949 đến nay", tác giả đã mô tả những trận đánh đẫm máu, ác liệt để giành khu vực này vào năm 1984 như là cuộc chiến đấu vinh quang chống lại sự xâm lược của quân đội Việt Nam.
Hơn nữa, chúng tôi còn được biết, nơi đây nay đang trở thành một điểm du lịch của phía Trung Quốc với những trưng bày và thuyết minh bất chấp chân lý, bất chấp mọi sự nhẫn nhịn, trên thực tế phá hoại quan hệ Việt-Trung mà các bạn bày tỏ muốn vun đắp. Liệu có cần phải đánh thức "sự thật lịch sử"?
Cuối cùng, về câu chuyện hoang đường "Việt Nam bắt nạt Trung Quốc", "Việt Nam luôn áp dụng phương châm đối đầu trực diện với Trung Quốc, một bước không lùi", để thay lời kết luận, tôi xin kể hai chuyện nhỏ : Tháng 1/1979, khi quân đội Việt Nam mở chiến dịch phản công đánh trả cuộc xâm lấn toàn diện của chế độ Pôn Pốt với một tốc độ tiến quân mà các hãng thông tin trên thế giới mô tả là nhanh như điện sẹt, các mũi tiến công và vu hồi đã sẵn sàng khép chặt biên giới Campuchia - Thái Lan trong "tích tắc", thì lập tức nhận được lệnh buông lỏng, nhờ đó mà bộ sậu lãnh đạo Khơme đỏ chạy thoát. Nhưng mục đích đã đạt được: Không để một ai trong số hàng ngàn chuyên gia cố vấn quân sự và dân sự "người nước ngoài" bị kẹt lại hoặc bị bắt giữ.
Câu chuyện thứ hai là tháng 2 năm ấy (1979), bị bất ngờ bởi cuộc tấn công của Quân đội Trung Quốc, các lực lượng phòng ngự Việt Nam tạm thời bị đẩy lui khỏi tuyến biên giới. Nhưng ngay sau cuộc phòng ngự, bộ đội Việt Nam đã tổ chức phản công và một chiến dịch - chiến lược tiến công quy mô với lực lượng mạnh cả xung lực lẫn hỏa lực nhằm vào đối phương đang tập trung ở một thành phố biên giới đã được triển khai. Mọi sự đã sẵn sàng và đây chắc chắn là một đòn giáng trả mạnh mẽ, gây thương vong nặng nề. Chỉ ít giờ trước thời điểm nổ súng, chiến dịch được hủy bỏ khi phía Trung Quốc tuyên bố bắt đầu cuộc triệt thoái.
Thẳng thắn và mà nhìn nhận, quan hệ Việt Nam - Trung Quốc bản chất là một mối quan hệ tích cực và cần phải như vậy. Xin được đề cập đến vào một dịp khác. Bài viết này của tôi không có mục đích tranh luận, ngay cả về phương diện học thuật. Nó đơn giản chỉ là "những điều không thể không nói ra", không thể không làm rõ vậy thôi.
TS Vũ Cao Phan

----
Chú thích: Những chữ để nghiêng trong bài này là trích từ "Những điều không thể không nói ra" hoặc từ các cuốn sách xuất bản ở Trung Quốc (TG).