Chủ Nhật, 10 tháng 6, 2012

KHÔNG BIẾT CÓ ĐÚNG KHÔNG NHỈ ???

Cẩn thận với những điều “lạ” khi du lịch Quảng Bình

Du lịch Quảng Bình là dự định của tôi từ mấy năm nay. Dải đất miền Trung này không chỉ nổi tiếng bởi Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng đã được UNESCO công nhận di sản thế giới mà còn có bờ biển đẹp cùng những câu chuyện lịch sử oai hùng. Thế nhưng lần nào đến các đại lý du lịch trên phố cổ Hà Nội chuyên tổ chức các chuyến du lịch mở (open tour) để hỏi tour du lịch Quảng bình tôi chỉ gặp được những cái lắc đầu. Trong khi đó các tour du lịch Mai Châu Bản Lác, Hạ Long, Sapa…thì luôn sẵn sàng. Vẫn muốn thực hiện dự định của mình, tôi hỏi thăm và được biết tuyến Hà Nội - Đồng Hới có xe đường dài chạy nhanh và khá thuận tiện. Rủ thêm bạn bè, chúng tôi mua vé rồi chuẩn bị lên đường.
Xuất phát từ phố Đội Cấn vào lúc tối, chúng tôi lên xe ô tô có giường nằm máy lạnh, ngủ một giấc, sáng hôm sau đã có mặt ở Đồng Hới. Gọi một chiếc taxi,  chúng tôi tiến về bãi biển Nhật Lệ. Bãi tắm trung tâm thành phố đây á? Chúng tôi ngạc nhiên trước vẻ hoang sơ có phần tiêu điều khi taxi dừng lại. Nhưng anh lái xe khẳng định đây đúng là bãi tắm trung tâm. Nào xuống xe và lấy hành lý. Biển ban mai thật trong lành. Mấy cháu bé của chúng tôi xuống xe là tung tăng như không hề mệt mỏi chút nào sau chuyến đi đường dài.
Chúng tôi tìm chỗ ăn sáng rồi tiến vào khách sạn Công đoàn để hỏi thuê phòng. Cô nhân viên lễ tân thông báo giá cả nhưng cứ nhìn chúng tôi với vẻ mặt rất kỳ lạ và vội vã cất quyển sổ nhật ký khách sạn vào ngăn kéo, rồi thờ ơ quay đi khi chúng tôi hỏi thêm thông tin. Ngạc nhiên trước cung cách phục vụ kiểu bao cấp của ba mươi năm trước, chúng tôi quay lui và quyết định tìm một khách sạn tư nhân tươm tất nào gần đó để nghỉ trong mấy ngày ở đây.
Đi ngược trở lại phía taxi đã đưa chúng tôi đến, đoạn đường này thưa vắng chỉ có vài tòa nhà đang xây dở và nhiều cây thông mọc ven đường nhưng không khí không trong trẻo chút nào bởi các thùng rác bên đường bốc mùi rất khó chịu. Rút cục thì chúng tôi cũng băng qua rồi dừng chân trước khách sạn tư nhân đầu tiên sau khi đã đi hết đoạn đường nặng mùi đó. Đó là khách sạn Đại Nam, một tòa nhà ba tầng xây kiểu hình chữ L nhìn ra biển, khá rộng rãi, có vẻ vắng khách và sạch sẽ; tuy nhiên cái ‘nặng mùi’ của nó thì chúng tôi chỉ được biết khi trả phòng. Thỏa thuận giá cả xong xuôi, chúng tôi nhận phòng, cất hành lý rồi xuống biển.
Cát và Biển Quảng Bình
Chúng tôi hỏi những người cho thuê phao bơi và được biết một cách chắc chắn đây thực sự là bãi tắm trung tâm của thành phố, nơi dành cho cả du khách và dân địa phương. Tuy nhiên, bãi biển rất vắng dù đó là sáng thứ 7 của một tuần mùa hè tháng 6. Có sự chênh lệch lớn giữa lượng du khách ít ỏi trên bãi biển và vô số những khách sạn phía bên kia đường.
Bãi cát vàng thoai thoải và sóng êm đềm mang đến cảm giác thật dễ chịu và... mau đói. Chúng tôi hỏi thăm bác cho thuê phao bơi và được chỉ dẫn nên đến Cầu Dài để thưởng thức món lẩu mắm. Cả người cho thuê phao lẫn anh lái taxi đều dặn kỹ càng về việc cần hỏi và thỏa thuận giá cả trước khi ăn uống bất kỳ món gì.
Tối đến chúng tôi thưởng thức món mực tươi hấp và cá đuối nướng dưới tán của những cây dù ngay trên bờ kè ven biển, phía trước khách sạn Công đoàn. Ông chủ quán ân cần hỏi chúng tôi nếu muốn thuê phòng ở khách sạn Công đoàn thì cứ nói với ông, ông sẽ liên hệ thu xếp, giá cả phải chăng... Chúng tôi phì cười vì quanh đây thiếu gì khách sạn, đâu có như thời bao cấp. Nhưng vẻ mặt nghiêm túc kỳ lạ của ông chủ quán ăn khiến chúng tôi liên tưởng đến vẻ kỳ lạ ‘bí ẩn’ của cô lễ tân ban sáng. Biết đâu có mối liên quan nào đó... Nhưng chúng tôi nhanh chóng bỏ qua để tận hưởng thời gian nghỉ ngơi của mình.
Đang ăn thì trời mưa, nước mưa hắt xung quanh cây dù và bàn ăn của chúng, điều đó cũng tạo nên một trải nghiệm khó quên. Bưa tối kết thúc nhanh hơn bởi mưa ngày càng nặng hạt. Phần tính tiền không quá phức tạp với những món chính đã được thỏa thuận giá cả từ trước. Tuy nhiên vì quên không hỏi giá trước khi uống, những chai bia Hà Nội đã được chủ quán tính với giá ‘đặc sản’ 25.000 đồng/chai. Lạ nhỉ! Bia Hà Nội trở thành ‘đặc sản’ ở Quảng Bình à? Hôm sau bia Hà Nội lại về với giá thường 10.000 đồng/chai sau khi hỏi và thỏa thuận giá trước khi uống. Điều này không biết có nên xem là sự ‘lạ’ không! Sự đãng trí phải trả giá thôi. Cần nhớ kỹ lời dặn của anh lái taxi và bác cho thuê phao bơi nhé.
Sáng hôm sau chúng tôi thuê một chuyến xe để tham quan  các động Thiên Đường và Phong Nha. Chuyến xe lướt nhanh trên đường Hồ Chí Minh, đường mòn năm xưa nay rộng thênh thang, rồi xe chạy xuyên qua những cánh rừng xanh mướt.
Di sản thiên nhiên thế giới Vườn quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng
Theo câu thành ngữ ‘đi xa về gần’, chúng tôi quyết định đến Thiên Đường trước, nơi này xa hơn Phong Nha. Dừng lại trong một bãi đỗ xe khá rộng, chúng tôi xuống xe rồi tiến về phía quầy bán vé. Có hẳn hai quầy bán vé khác nhau: một quầy bán vé tham quan, một quầy bán vé xe điện. May mắn là rất vắng khách, nếu không việc xếp hàng hai lần ắt hẳn tiêu tốn khá nhiều thời gian.
Quầy bán vé tham quan có vé dành cho người lớn và trẻ em cao hơn 1m. Quên không đo chiều cao trước khi đi du lịch và rút kinh nghiệm về việc mua sắm gì cũng nên hỏi trước, chúng tôi dắt hai cháu bé ra phía trước quầy để hỏi cô bán vé xem có cần mua vé tham quan cho các cháu không. Thẩm định chiều cao của các cháu bằng mắt, cô bán vé mỉm cười thông báo: ‘Không cần mua vé tham quan cho các bé đâu chị ạ’. Chúng tôi vui vẻ quay sang quầy mua vé thuê xe điện.
Đầy đủ các loại vé trong tay, chúng tôi tiến đến cửa soát vé. Các bé tung tăng trong niềm phấn khích và thích thú ngắm nhìn mấy gốc cây tạo dáng kỳ lạ. Tại cửa soát vé, một thanh niên trong trang phục nhân viên mầu đỏ ngăn các bé lại rồi kéo một bé đến trước một cái vạch ngang. Nhân viên này thông báo cháu cao quá một mét, rồi nói rằng vạch ngang đó là thước 1m và yêu cầu chúng tôi quay lại mua vé. Chúng tôi giải thích rằng chúng tôi không thấy cái thước đo nào ở quầy bán vé nên đã mang các cháu đến trước mặt cô bán vé để hỏi và cô nói rằng không cần mua vé cho các cháu vì chúng bé quá. Cháu bé của chúng tôi thì nhanh nhảu bỏ dép để chú nhân viên đo lại. Đầu của cháu vừa vặn chạm vạch, trừ mấy sợi tóc nhô cao hơn. Mặc dù vậy, nhân viên áo đỏ vẫn kiên quyết bắt chúng tôi quay lại mua thêm 1 vé tham quan. Thôi đành đội cái nắng chang chang quay lại quầy mua thêm 1 vé nữa. Lạ thế, cùng một doanh nghiệp Trường Thịnh quản lý mà mỗi nhân viên nói một kiểu, dù có hỏi trước thì cũng vẫn gặp sự phiền.
Từ bến đỗ xe điện, sau một hồi leo bộ trên con đường nhỏ quanh co triền núi, du khách sẽ lên đến cửa động Thiên Đường. Cửa động hơi hẹp bởi một tảng đá to chẹn ngang, nhưng càng đi xuống thì càng rộng, nhiều nhũ đá có hình thù kiểu dáng đẹp mắt. Theo giới thiệu, động này có chiều dài hơn 30 km nhưng hiện mới khai thác km đầu tiên. Công ty khai thác đã đặt những bậc thang gỗ để du khách dễ đi. Tuy nhiên, trong cái ẩm ướt của những giọt nước nhỏ xuống từ vòm động, nhiều bậc thang đã trơn trượt.
Chúng tôi quay lại xe để đi đến Phong Nha thì đã quá trưa. Sau bữa ăn trưa, chúng tôi mua vé tham quan động Phong Nha ướt và mua vé thuyền. Thuyền du lịch ở đây sẽ đưa chúng tôi tham quan trong lòng động và chúng tôi sẽ được chiêm ngưỡng tận mắt những kỳ ảo được cả thế giới công nhận như những lời giới thiệu từ trước đến nay. May mắn là hai loại vé bán ở cùng một chỗ và cũng rất vắng khách nên chúng tôi không mất thời gian xếp hàng.
Xuống thuyền. Gió mát khiến cái nắng nóng dịu đi đôi chút. Thuyền chạy một quãng sông dài mà vẫn chưa thấy cửa động đâu. Rồi cũng đến một cái bến, thuyền dừng. Cậu lái thuyền chạy lên bờ để trình một loại thẻ hay giấy tờ gì đó. Chúng tôi ngồi trên thuyền chờ một lát. Trình xong, cậu lái trở lại thuyền. Thuyền đi tiếp, chỉ vài chục mét rồi dừng hẳn. Chúng tôi đã ở phía trong vòm động, chỉ cách cửa động khoảng chục mét, phía trước là một cửa động khác nhưng nước dâng cao gần sát vòm, thuyền không đi tiếp được nữa. Trước vẻ mặt chưng hửng của tất cả chúng tôi, cậu lái thuyền thông báo rằng mùa này mưa, nước lên cao bít kín gần hết các cửa động tiếp theo nên thuyền không thể đi qua, khách chỉ có thể leo bộ tham quan một phần của động Phong Nha ướt ở phía ngoài này thôi. ‘Thế quầy bán vé không báo để các anh chị biết à?’ cậu hỏi và chúng tôi chỉ còn biết lắc đầu.
Chẳng còn cảm thấy ‘lạ’ trước cung cách làm du lịch ở nơi đây nữa, mặc dù các loại vé không hề rẻ, chúng tôi đành tự an ủi: thôi thì được bao nhiêu dùng bấy nhiêu. Chúng tôi, người lớn trẻ nhỏ, cùng dắt nhau vào trong động tham quan. Lòng động khá rộng, nhiều chỗ bằng phẳng như chiếc giường nằm của người cổ đại. Những nhũ đá có kiểu dáng đa dạng như hình con rồng, con rùa, con sư tử hay đụn thóc, đụn gạo...
Cửa động Phong Nha
Ngày nghỉ cuối, rút mấy lần kinh nghiệm trong vài ngày ở đây, chúng tôi thông báo từ sáng với nhân viên khách sạn là sẽ trả phòng vào khoảng 6-7h chiều để ra bến xe. Cậu nhân viên bảo rằng vì thời gian trả phòng theo thường lệ là 12h trưa nên quãng thời gian quá giờ được tính tiền là 50% giá thuê phòng cả ngày; và chúng tôi đồng ý sẽ trả thêm tiền quá giờ đúng như cách tính đó.
Tuy nhiên đến lúc trả phòng thì người quản lý khách sạn yêu cầu chúng tôi trả thêm số tiền bằng 100% tiền thuê cả một ngày vì ‘không bán được phòng cho ai vào lúc này’ và bảo đó là quy định của khách sạn từ trước đến nay đối với khách. Khi chúng tôi hỏi họ các quy định đó được niêm yết ở đâu và yêu cầu họ xuất trình bảng giá quy định, người quản lý lục lọi mãi trong ngăn kéo không tìm ra tờ giấy nào, cậu nhân viên cũng lục đục tìm kiếm phía sau rồi lôi từ đâu đó ra một tấm biển bụi bặm, chùi bụi đi thì nhìn thấy dòng chữ ‘Nội quy khách sạn’. Trong lúc người quản lý và nhân viên khách sạn cố gắng tìm dòng chữ nào đó chưa thấy để giải thích cho việc tính tiền 50% hay 100% thì taxi đã đến trước cửa giục đón chúng tôi ra bến xe. Ngán ngẩm và không muốn lỡ chuyến xe đường dài, chúng tôi đành trả tiền như mong muốn của họ cho xong, rồi lấy lại mấy chiếc thẻ nhà báo và xách hành lý chạy ra taxi. Chúng tôi biết rằng mình đã phải trả tiền cho cái sự làm ăn ế ẩm, cố tình nhập nhèm bất tín của cái khách sạn Đại Nam, số 153 đường Trường Pháp, Đồng Hới này.
Trên chuyến xe trở về Hà nội, tôi chợt nhớ ra rằng suốt mấy ngày ở Quảng Bình, chúng tôi chỉ gặp mỗi một du khách nước ngoài đến tham quan động Thiên Đường và Phong Nha. Chụp ảnh bằng iPhone, du khách này có vẻ như đi công tác tiện đường ghé qua. Lại nhớ đến Bản Lác - Mai Châu, ngôi làng bé nhỏ nơi tôi đã đến mấy lần, cả mùa đông lẫn mùa hè, lúc nào cũng nườm nượp khách tây, khách ta mang theo cả gia đình đến du lịch. Dẫu chẳng có di sản nào được UNESCO công nhận, nhưng sự mộc mạc, chân chất của những người dân Bản Lác là cái duyên, cái tín khiến người ta đến thăm rồi muốn quay lại nhiều lần cùng bạn bè, gia đình. Giờ thì tôi hiểu tại sao các đại lý du lịch ở phố cổ Hà Nội không tổ chức được các tour du lịch Quảng Bình.
Xe chạy sang địa phận Hà Tĩnh. Đường tốt, xe chạy êm ru tôi vào giấc ngủ. Những điều khó chịu đã ở phía sau lưng, ngủ một giấc thôi, sáng mai mình đã về nhà.   
Đại YÊN

ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI HOÀNG ĐĂNG QUANG - QUẢNG BÌNH

Hoàng Đăng Quang - Quảng Bình
Kính thưa Quốc hội,
Tôi cơ bản nhất trí với báo cáo của Chính phủ và các báo cáo thẩm tra của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Ở đây tôi xin tham gia 3 nhóm vấn đề như sau:
Thứ nhất, về tình hình phân giao kế hoạch năm 2012 và tác động của một số chính sách mới ban hành. Tôi cho rằng năm nay việc phân bổ vốn, đặc biệt là phân bổ vốn đầu tư từ nguồn trái phiếu Chính phủ và phân bổ cho các chương trình mục tiêu quốc gia giao cho các địa phương còn rất chậm, ảnh hưởng đến tiến độ phân bổ vốn và triển khai ở các địa phương. Nhiều công trình dự án chờ vốn thi công chậm, kéo dài, kém chất lượng, làm cho doanh nghiệp khó khăn hơn. Vấn đề này  đề nghị các bộ, ngành Trung ương rút kinh nghiệm để triển khai sớm hơn trong thời gian tới. Nhất là trong những lúc nền kinh tế đất nước đang còn khó khăn thì vấn đề phân giao, phân bổ vốn và giải ngân các nguồn vốn phải hết sức kịp thời.
Về tác động của một số chính sách mới ban hành. Vừa qua, Chính phủ đã có nhiều cơ chế, chính sách kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và đã có những tín hiệu tích cực. Lạm phát tiếp tục giảm hơn kỳ vọng 7%-8%. Phải nói rằng đó là cố gắng rất lớn. Tuy nhiên, có thể thấy rằng, công tác dự báo để ban hành một số chính sách còn thiếu kịp thời. Thí dụ, khi tình hình có nhiều doanh nghiệp làm ăn khó khăn, giải thể, ngừng hoạt động, lẽ ra phải có chính sách mới ra đời để tháo gỡ ngay. Nhưng mãi đến đầu tháng 5 mới có Nghị quyết số 13 của Chính phủ và áp dụng gói giải pháp 29 nghìn tỷ đồng để hỗ trợ cho doanh nghiệp. Tôi cho rằng việc ban hành Nghị quyết số 13 của Chính phủ là hết sức cần thiết, có tính đồng bộ và toàn diện. Nhưng việc ban hành nghị quyết có tác động của những chính sách đó đối với doanh nghiệp còn chậm trễ làm cho doanh nghiệp giải thể, ngừng hoạt động tăng lên rất nhiều so với cùng kỳ của năm trước.
Đối với những chính sách về miễn giản, giảm thuế cho doanh nghiệp. Phải nói rằng đây là những chính sách vừa qua là hết sức cần thiết. Nhưng tôi cho rằng đó mới chỉ là những giải pháp có tính chất nhất thời, có tính chất tình thế. Do đó, đề nghị phải hoạch định chính sách vĩ mô, phải có một lộ trình tương đối dài hạn, phải xem xét một cách toàn diện, bảo đảm tính cân đối. Việc thực hiện tính chất thắt chặt và chính sách kích thích tăng trưởng nhằm vừa ổn định kinh tế vĩ mô, vừa bảo đảm sự tăng cường.
Vấn đề thứ hai, về chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế. Chúng ta biết rằng trong những tháng đầu năm là thời điểm có nhiều khó khăn và là thời điểm có mức tăng trưởng thấp nhất so với cùng kỳ của nhiều năm trước đây. Trong Quý I tăng trưởng ở mức 4%. Quý II dự báo tăng trưởng ở mức 4,5%. Nếu tính bình quân chung của hai quý thì đạt thấp. Điều này cho thấy sự phục hồi, tăng trưởng của nền kinh tế chậm. Báo hiệu sự suy giảm của nền kinh tế. Khả năng không đạt chỉ tiêu của Quốc hội đề ra từ 6% đến 6,5%. Trong lúc đó, báo cáo đánh giá tốc độ tăng trưởng quý I đạt 4% cho rằng đó là mức tăng hợp lý. Tôi cho rằng, đánh giá như vậy là chưa thực sự sát với tình hình. Đề nghị xem lại vấn đề này.
Điều quan trọng hiện nay là phải duy trì được mức độ tăng trưởng không để nền kinh tế rơi vào tình trạng lạm phát, gây khó khăn cho sản xuất kinh doanh. Doanh nghiệp vẫn chưa thoát khỏi hệ lụy của việc khó tiếp cận nguồn vốn vay mặc dù lãi suất đã có giảm. Hiện nay sức hấp thụ vốn của doanh nghiệp vẫn còn yếu, số lượng ngân hàng quá lớn. Về các giải pháp tôi cơ bản nhất trí với 6 nhóm giải pháp nêu trong báo cáo. Tôi đề nghị Chính phủ kịp thời chỉ đạo hướng dẫn triển khai sớm các chính sách nêu trong Nghị quyết số 13 của Chính phủ nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho doanh nghiệp trở lại sản xuất bình thường. Tôi đề nghị Chính phủ khẩn trương chỉ đạo hướng dẫn triển khai 3 vấn đề như sau:
Thứ nhất, đề nghị Chính phủ chỉ đạo tiếp tục điều chỉnh hạ mặt bằng lãi suất cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ phù hợp với mức giảm của lạm phát nhưng phải bảo đảm được tính ổn định của lãi suất và tăng khả năng vay vốn cho doanh nghiệp. Chính phủ cần có nhóm chính sách giải quyết tiêu thụ các mặt hàng tồn kho cho doanh nghiệp, kích thích doanh nghiệp ổn định sản xuất và phát triển.
Vấn đề thứ hai, ngân hàng nhà nước cần phải khẩn trương hướng dẫn cơ cấu lại các khoản nợ cho doanh nghiệp, có chính sách trả nợ thay đổi thời hạn lãi suất, có phương án xử lý nợ xấu, nợ cũ và cho vay nợ mới nhằm khơi thông dòng vốn trong nền kinh tế, khắc phục một tình trạng lãi suất giảm, ngân hàng thừa vốn, những doanh nghiệp không vay được vốn. Hiện nay rất nhiều doanh nghiệp đã đuối sức tự giác phá sản, giải thể. Đồng thời tôi cũng đề nghị kiểm soát chặt chẽ các phương án xử lý nợ của các ngân hàng thương mại để không để tiêu cực xảy ra.
Vấn đề thứ ba, các giải pháp đưa ra trong Nghị quyết số 13 của Chính phủ tương đối đầy đủ và toàn diện, mở ra nhiều triển vọng cho nền kinh tế và doanh nghiệp. Nhưng điều quan trọng nhất là việc triển khai thực hiện các giải pháp đó phải hết sức khẩn trương công khai, minh bạch, đơn giản hóa thủ tục là vấn đề đáng quan tâm. Đề nghị các bộ, ngành có liên quan theo chức năng nhiệm vụ của mình cần phải sớm hướng dẫn cho các địa phương triển khai thực hiện ngay các giải pháp. Ví dụ xử lý hàng tồn kho, xử lý nợ cũ, cho vay nợ mới, việc kéo dài thời hạn nộp thuế, giảm tiền thuê đất, miễn thuế môn bài cho một số đối tượng. Rút kinh nghiệm vừa qua việc hướng dẫn tiền thuê đất cho các doanh nghiệp trong năm 2011 có một số nơi triển khai đang còn chậm.
Vấn đề thứ tư, về sản xuất nông nghiệp là một thế mạnh của nền kinh tế tuy nhiên hiện nay đầu tư cho nông nghiệp vẫn còn thấp. Trong phiên họp vừa qua Quốc hội đã tập trung thảo luận các giải pháp đầu tư công cho nông nghiệp, nông dân và nông thôn tôi xin không phân tích thêm. Ở đây tôi đề nghị hai vấn đề:
Cùng với gói giải pháp hỗ trợ 29.000 tỷ đồng cho doanh nghiệp, phải nói đây là sự chia sẻ của Chính phủ đối với các doanh nghiệp, bên cạnh đó tôi đề nghị Chính phủ dành riêng một gói giải pháp hỗ trợ cho nông dân, kích thích thị trường nông sản, hỗ trợ đầu vào, đầu ra sản xuất, ưu tiên lãi suất thấp cho chế biến nông, thủy, hải sản, có chính sách đối với hàng tồn kho là các mặt hàng nông sản, thủy sản, lúa gạo, đặc biệt quan tâm các vùng khó khăn, vùng bị thiên tai, dịch bệnh và các doanh nghiệp, các hợp tác xã kinh doanh dịch vụ nông nghiệp.
Giải pháp thứ hai, đề nghị tăng cường chỉ đạo các biện pháp huy động các nguồn vốn, ngoài nguồn vốn 2000 tỷ đồng nêu trong Nghị quyết 13 của Chính phủ để đầu tư phát triển hạ tầng giao thông nông thôn, xây dựng nông thôn mới. Hiện nay xây dựng nông thôn mới có một số tiêu chí thực hiện rất khó khăn, như xây dựng cơ sở hạ tầng nếu không có giải pháp hỗ trợ kịp thời của Chính phủ, chúng ta sẽ không đạt chỉ tiêu của Quốc hội đề ra. Nhân đây tôi cũng đề nghị Chính phủ chỉ đạo rà soát điều chỉnh một số chỉ tiêu xây dựng nông thôn mới để phù hợp với điều kiện của nông thôn Việt Nam hiện nay. Tôi xin hết.

BỘ Y TẾ KHÔNG BIẾT NHƯNG DÂN BIẾT - BIẾT NHƯNG ĐÀNH CAM CHỊU. VÌ ĐÂU ???

Có những phong bì 'khủng' bệnh nhân không biết

– Nghiên cứu “Chi phí không chính thức trong dịch vụ y tế” do Tổ chức Hướng tới Minh bạch phối hợp cùng Trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo Phát triển Cộng đồng thực hiện vừa được công bố ngày 6/6 tại Hà Nội cho thấy có những bệnh nhân đưa phong bì cả chục triệu đồng cho bác sỹ.

Tuy nhiên, Tiến sĩ, bác sỹ Trần Tuấn, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo Phát triển Cộng đồng – đơn vị chủ trì thực hiện nghiên cứu này – cho biết khoản phong bì này “chưa thấm vào đâu” so với “phong bì to” bệnh nhân phải chi trả nhưng họ không biết mình đã phải đưa cho bác sỹ.

Đó là “phong bì khủng” từ các cuộc đấu thầu thuốc, sinh phẩm và trang thiết bị y tế và "hoa hồng" cho bác sỹ kê đơn.
Đây là những chi phí “không chính thức” khổng lồ trong ngành y tế Việt Nam hiện nay mà những biện pháp can thiệp chưa tỏ ra có hiệu quả.
Đơn thuốc tại bệnh viện Nhi TW năm 2010 có giá bán cao hơn gấp nhiều lần so với giá thuốc nhập về. Kết quả thanh tra của Cục Quản lý Dược sau đó cũng thừa nhận thực trạng này là có thật. Theo ông Trần Tuấn, những "phong bì" núp bóng dưới các cuộc đấu thầu thuốc, sinh phẩm y tế mới thực sự là lớn. Người bệnh đều phải trả chi phí cho những chiếc phong bì này thông qua việc mua thuốc giá cao trong bệnh viện (Ảnh: C.Q)
VietNamNet đã có cuộc trao đổi với Tiến sĩ Trần Tuấn về vấn đề “nhạy cảm” này.

Ông có thể cho biết nghiên cứu này được thực hiện trong thời gian bao lâu, với phạm vi nào? Mục đích của nghiên cứu này là gì?
Nghiên cứu này được thực hiện từ tháng 8/2010 đến tháng 2/2011 tại Hà Nội, Sơn La, Đắk Lắk và Cần Thơ. Đây là lần đầu tiên có một nghiên cứu chính thức về vấn đề này.

Mục đích đầu tiên là để tìm hiểu về tình trạng đưa và nhận phong bì trong ngành y tế thông qua các đối tượng nhà hoạch định chính sách, lãnh đạo ngành y, cán bộ y tế, người bệnh.

Mục đích thứ hai là để lãnh đạo ngành y tế phải thừa nhận một thực tế có thực đang diễn ra hàng ngày, hàng giờ tại các bệnh viện ở Việt Nam thông qua các bằng chứng khoa học.

Từ trước đến nay, câu chuyện này đã được nói đến nhiều, dưới mọi hình thức nhưng chưa có bằng chứng thuyết phục nào được đưa ra và những người làm trong ngành y cũng thường xuyên có ý phủ nhận thực tế này.
 
Tiến sĩ Trần Tuấn (Ảnh: Internet)
Ông cho biết chủ đề này đã được nói đến nhiều. Vậy kết quả nghiên cứu cuối cùng được đưa ra có gì khiến ông bất ngờ không?
Không, kết quả không có gì làm tôi bất ngờ. Nhưng tôi có một số ấn tượng đặc biệt với một trong những kết quả của nghiên cứu.
Đó là có sự trái ngược giữa bác sỹ và bệnh nhân khi họ nhận định về tính chất của “phong bì bệnh viện”.

Cụ thể: Trong khi bệnh nhân khẳng định họ đưa phong bì theo tâm lý “đám đông”, thấy người khác làm thì mình cũng làm theo, thậm chí có 1/3 bệnh nhân được hỏi cho biết họ bị cán bộ y tế gợi ý thì ngược lại, hầu hết cán bộ y tế đều cho biết họ không gợi ý, phong bì là do bệnh nhân tự nguyện đưa.

Hoặc trong khi bệnh nhân khẳng định khi đưa phong bì sẽ nhận lại dịch vụ tốt hơn hẳn (như nhẹ nhàng, từ tốn) thì cán bộ y tế khẳng định bệnh nhân có đưa phong bì hay không thì họ vẫn làm y như vậy (nghĩa là không có sự khác nhau về dịch vụ chất lượng). Điều này là rất trái ngược.

Theo ông, ngoài những phong bì trực tiếp mà bệnh nhân đưa cho bác sỹ, còn những chi phí không chính thức nào mà người bệnh đang phải chi trả không?

Còn rất nhiều. Trong đó, có những phong bì “khủng” cho bác sỹ mà bệnh nhân không biết. Đó là “phong bì khủng” từ các cuộc đấu thầu thuốc, sinh phẩm và trang thiết bị y tế.

Trong các bệnh viện, khi đấu thầu thuốc, sinh phẩm, trang thiết bị y tế, rất nhiều “chi phí trung gian” như hoa hồng cho những người có khả năng quyết định trúng thầu được cộng tất cả vào giá trúng thầu, đẩy giá trúng thầu lên cao hơn nhiều so với thực tế.

Và kết quả là người nhân phải bỏ tiền ra để trả cho cả những chi phí này (thực chất là chúng đã rơi vào túi của cán bộ y tế).

Đây mới là những chi phí không chính thức khổng lồ trong ngành y tế Việt Nam. Chúng tôi dự kiến trong thời gian tới sẽ tiến hành những nghiên cứu để đánh giá về thực trạng của những chiếc phong bì “khổng lồ” này.

Xin cảm ơn ông!

Nhiều hình thức "cảm ơn" trong lĩnh vực y tế
Nghiên cứu “Chi phí không chính thức trong dịch vụ y tế” do Tổ chức Hướng tới Minh bạch phối hợp cùng Trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo Phát triển Cộng đồng được tiến hành với sự tham gia của 180 người là bác sĩ, y tá, nhân viên y tế, bệnh nhân, người nhà bệnh nhân.

Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng việc “cảm ơn” không chỉ là quà biếu, tiền mặt, phong bì mà còn núp dưới nhiều hình thức khác như tạo cơ hội học tập, việc làm, mua nhà ở giá gốc, xin giúp con bác sĩ vào trường học chất lượng cao, làm sổ đỏ cá nhân, vv …

Nghiên cứu này cho thấy có sự chênh lệch lớn về giá trị các khoản tiền đưa theo phong bì giữa các bệnh viện tuyến trên và tuyến dưới, giữa các cơ sở y tế ở thành thị và nông thôn. Mức “cảm ơn” dao động từ 50.000 đồng- 5.000.000 đồng, một số trường hợp ngoại lệ lên tới vài chục triệu đồng.

Cẩm Quyên
(Thực hiện)

Thứ Bảy, 9 tháng 6, 2012

Nước nhà gặp nhiễu sự, dân còn giúp Nhà nước?


Nước nhà gặp nhiễu sự, dân còn giúp Nhà nước?
Cập nhật lúc :5:22 PM, 09/06/2012
 
(ĐVO) Tại sao cán bộ, công chức được bồi dưỡng về quốc phòng lại để người nước ngoài có hoạt động vượt ngoài tầm kiểm soát? Tại sao tập đoàn nhà nước lại kém thành công?...

Vào thời điểm này khi nhiễu sự liệu dân có ra gánh vác như những thời kỳ đầy thử thách trong quá khứ lịch sử oai hùng của chúng ta không?
Những câu hỏi trên và hàng loạt câu hỏi khác nữa được đại biểu Dương Trung Quốc nêu ra khiến người nghe lẫn người có trách nhiệm trả lời không khỏi cảm thấy nhức nhối.

Để giúp độc giả tường tận quan điểm của đại biểu Dương Trung Quốc, Đất Việt xin đăng tải toàn bộ nội dung bài phát biểu trước Quốc hội của ông chiều ngày 7/6.

Dưới đây là nội dung chi tiết:

Kính thưa Quốc hội,

Tôi không nhắc lại nhiều ý kiến của nhiều vị đại biểu Quốc hội phát biểu trước tôi để đồng tình với một số đánh giá tích cực trong hoạt động của Chính phủ thể hiện trong báo cáo. Tôi muốn tiếp cận từ cách nhìn khác.
Qua năm tháng tham gia Quốc hội, tôi nghiệm thấy một Quốc hội như thế nào sẽ có một Chính phủ như thế đó, phương thức hoạt động của Quốc hội là nửa năm triệu tập một kỳ họp nghe bản báo cáo với nội dung chủ yếu là nhìn lại 6 tháng vừa qua, hướng tới mục tiêu 6 tháng tiếp theo.

Thời điểm cuối tháng 5, cuối tháng 10 mỗi năm thật lỡ dở để có dịp nhìn lại trọn vẹn từng năm, cứ tập trung vào bản báo cáo 6 tháng 1 lần khó có thể nhận dạng bức tranh toàn cảnh của đất nước.

Với tầm nhìn mỗi nửa năm ấy, bản Báo cáo của Chính phủ chỉ nêu lên việc đã làm như những thành tựu đã đạt được, đưa ra một số sai sót yếu kém gắn với những vấn đề nổi cộm dư luận đang quan tâm và đưa ra những giải pháp thường là ngắn hạn, ít mới mẻ.

Theo đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc, cái mạnh nhất của Chính phủ là “khả năng ứng biến”, “năng lực giải quyết tình huống”..

Để ngắm bức tranh toàn cảnh cần có độ lùi về không gian và thời gian, hoàn cảnh cho tôi đến nay đã được dự khoảng 20 phiên, đọc chừng 20 bản Báo cáo của Chính phủ, bằng cảm quan nghề nghiệp của mình nhận ra cái mạnh, cái chưa mạnh của Chính phủ, mạnh nhất của Chính phủ là khả năng ứng biến, năng lực giải quyết tình huống.

Phải chăng đây là sự kế thừa của truyền thống hình thành trong thời chiến. Năng lực ấy đã phát huy tác dụng tích cực khi chúng ta thực hiện mục tiêu chính nghĩa, một đường lối đúng đắn có sự hậu thuẫn về ý chí của toàn dân, lại có tầm nhìn sáng suốt của người đứng đầu.


..."thất thoát ngân sách khổng lồ gắn với những đổ vỡ của một số tập đoàn như Vinashin, Vinaline thì có ai mà không xót ruột"...

Cái mạnh ấy đã giúp Chính phủ cứ 6 tháng một lần lại vượt qua được những thử thách của thực tiễn, đạt được những mục tiêu ngắn hạn và cũng vượt qua được một kỳ họp cũng là một kỳ chất vấn của Quốc hội để rồi lại dấn thân phấn đấu cho 6 tháng tiếp theo. Vì thế những thành tựu ấy khó bền vững và những khuyết điểm yếu kém của Chính phủ luôn lặp lại gần như là một điệp khúc không mấy thay đổi qua các bản báo cáo.
Nói như vậy tôi hoàn toàn không phủ nhận những nỗ lực của Chính phủ, các thành viên của Chính phủ và bộ máy của Chính phủ, cũng như chia sẻ những khó khăn khách quan mà cuộc khủng hoảng kinh tế mang tính toàn cầu cũng như cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền rất phức tạp mà Chính phủ phải gánh vác.

Nói như vậy cũng không có nghĩa là xem thường năng lực ứng phó và giải pháp tình huống nhưng chỉ như vậy thì không đủ. Bởi vì nếu cứ tiếp tục như thế này thì mãi mãi chúng ta không thể theo kịp những yêu cầu ngày càng khắt khe của sự phát triển bền vững, cũng như hội nhập với thế giới đang cạnh tranh quyết liệt và đầy những biến động rủi ro.

Hơn thế nó cũng không đáp ứng được mong muốn của nhân dân ngày càng có năng lực thể hiện quyền dân chủ của mình mà hoạt động của Quốc hội có trách nhiệm phải đáp ứng.
Kính thưa Quốc hội,
Một trong những chức năng quan trọng cũng là trách nhiệm nặng nề nhất của Chính phủ là điều hành đất nước ở tầm vĩ mô và mang nội hàm về không gian to lớn lẫn thời gian lâu dài. Ta có thể đặt ra những câu hỏi vì sao đất nước đã hòa bình gần 40 năm mà con đường huyết mạch số 1 hay hệ thống đường sắt vẫn gần như thời kỳ Tây cai trị.
Vì sao trên lĩnh vực công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lĩnh vực được coi là mục tiêu chiến lược và được Chính phủ đầu tư nhiều nhất, trong đó đặt vai trò là động lực hàng đầu cho các tập đoàn nhà nước lại là lĩnh vực kém thành công nhất. Để nhắc đến một thương hiệu hay một sản phẩm công nghiệp đáng để cho thế giới biết đến thì dường như chưa có còn nhắc đến con số như thất thoát ngân sách khổng lồ gắn với những đổ vỡ của một số tập đoàn như Vinashin, Vinaline thì có ai mà không xót ruột.


 ..."đối với dân chính bộ máy công quyền ấy lại phải chăng quá khắt khe cảnh giác để rồi hành xử có phần vụng về, thô bạo đối với bộ phận nhân dân"...

Trong khi đó như chúng ta vừa thảo luận về nông nghiệp, nông dân và nông thôn thì chính những người nông dân, ngư dân vốn ít được sự quan tâm đầu tư của Chính phủ, thậm chí phải chịu đựng nhiều rủi ro không chỉ của thiên tai mà của cả môt số sai sót trong điều hành của Chính phủ lại làm nên những thành tựu, những thương hiệu hơn hẳn công nghiệp trên nhiều lĩnh vực quan trọng, thực tiễn đã vượt qua sự chủ động trong tầm nhìn và tầm tay quản lý của Chính phủ.

Một ví dụ nữa, đội ngũ cán bộ, công chức được tuyển chọn, đào tạo trong đó dường như ai cũng được bồi dưỡng những khoa học về quốc phòng toàn dân mà vẫn để hiện tượng sử dụng lao động người nước ngoài, cho thuê đất rừng hay khai thác khoáng sản và gần đây nhất là nuôi hải sản ngay tại những vị trí trọng yếu an ninh quốc gia đều vượt ra ngoài tầm kiểm soát của bộ máy nhà nước.

Nhìn vào bản đồ quốc gia, chúng ta sẽ thấy không ít sự bất hợp lý và lãng phí, hệ quả của mối quan hệ giữa Chính phủ Trung ương và các chính quyền địa phương bị chi phối bởi tầm nhìn của bộ, cũng như sự thỏa hiệp của mối quan hệ xin, cho. Tôi nhấn mạnh mối quan hệ xin, cho đang ngày càng trầm trọng và gây tác hại lớn nhất cho điều hành đất nước, phá hoại những giá trị xã hội tạo nên hiện tượng đáng quan ngại không chỉ là những vụ tham nhũng và thất thoát lớn đã được phát hiện hay không thể phát hiện mà còn là hiện tượng đã được thừa nhận là tham nhũng vặt.

Trong khi đó, đối với dân chính bộ máy công quyền ấy lại phải chăng quá khắt khe cảnh giác để rồi hành xử có phần vụng về, thô bạo đối với bộ phận nhân dân làm phương hại đến hình ảnh của một Nhà nước của dân, do dân vì dân mà chúng ta đang phấn đấu. Chỉ số lòng tin đối với Chính phủ chưa khi nào được quan tâm tính đến, nhưng chắc chắn không như chúng ta mong muốn. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến những hạn chế đó, nhưng theo tôi nguyên nhân đáng quan ngại nhất là năng lực lắng nghe của Chính phủ.

Nhìn lại một chặng đường dài, thời gian dài hơn mỗi kỳ họp, chúng ta sẽ thấy có rất nhiều vấn đề đã được cảnh báo đến từ phát biểu của các nhà khoa học hay hoạt động xã hội trong đó có những đại biểu Quốc hội từ rất nhiều cuộc hội thảo về đề tài nghiên cứu v.v... mà Chính phủ chậm tiếp thu để rồi thực tiễn chứng minh những lời cảnh báo đó đã trở thành hiện thực. Năng lực lắng nghe bị hạn chế, phải chăng do Chính phủ chưa tin vào dân, vào những người không nằm trong bộ máy tư vấn gần gũi của Chính phủ liệu có phải là lợi ích nhóm hay không?

"đội ngũ cán bộ, công chức được tuyển chọn, đào tạo trong đó dường như ai cũng được bồi dưỡng những khoa học về quốc phòng toàn dân mà vẫn để hiện tượng... vượt ra ngoài tầm kiểm soát của bộ máy nhà nước"


 

Trong những hạn chế của Chính phủ đó có trách nhiệm của Quốc hội, vì sao khi thảo luận về Luật phòng, chống tham nhũng nhiều vị đại biểu Quốc hội và dư luận xã hội đã can rằng không nên giao trách nhiệm đứng đầu cơ quan này cho cơ quan hành pháp, thế mà chính Quốc hội chúng ta lại thông qua luật để tới nay lại phải sửa lại.

Vì sao từ nhiệm kỳ trước Quốc hội, tôi đã thấy các vị đại biểu nêu lên sự cần thiết phải xây dựng luật nhằm quản lý và phát huy vốn của Nhà nước, Quốc hội vẫn chưa tiếp thu. Vì sao khi xảy ra những vụ việc như Tiên Lãng - Hải Phòng, Văn Giang - Hưng Yên chẳng thấy Quốc hội sớm vào cuộc. Tại sao xảy ra hiện tượng người Trung Quốc nuôi cá ngay địa bàn quân sự Cam Ranh, người phát hiện chỉ là báo chí. Tất cả các bản Báo cáo ngân sách Chính phủ trình Quốc hội đều cho qua thì sự thất thoát ngân sách lớn như thế có trách nhiệm của Quốc hội không?

Khi nói đến Quốc hội, tôi cũng ý thức được rằng trong đó có cả chính mình. Từ những ý kiến trên, tôi kiến nghị các bản Báo cáo mỗi kỳ họp của Quốc hội, của Chính phủ ngoài phần báo cáo như cách viết hiện nay, Quốc hội cần hướng việc giám sát vào những vấn đề nổi bật gắn với tầm điều hành vĩ mô của Chính phủ để thấy những tiến bộ của Chính phủ sau mỗi kỳ họp thông qua đánh giá việc thực hiện những mục tiêu lớn và dài hạn.

Cuối cùng, tôi xin nhắc lại lời của người xưa đúc kết về thuật trị nước, đó là câu đối thời hậu Lê Hoàng Ngũ Phúc và một thời kỳ lịch sử rối ren ông đã nhắc nhở: "Nước lấy dân làm gốc, nước bình yên, nước hãy để dân yên. Dân lấy nước làm lòng, khi nhiễu sự dân ra gánh vác". Thử đặt ra một câu hỏi vào thời điểm này khi nhiễu sự liệu dân có ra gánh vác như những thời kỳ đầy thử thách trong quá khứ lịch sử oai hùng của chúng ta không? Đặt câu hỏi đó Chính phủ sẽ thấy nhiều việc cần phải làm.

Xin hết, xin cảm ơn Quốc hội.

Thứ Sáu, 8 tháng 6, 2012

Bút ký :Ký ức làng chiến tranh(Tạp chí Nhà văn 12/ 2008)


Bút ký :Ký ức làng chiến tranh(Tạp chí Nhà văn 12/ 2008)
vudam | 17 Dec, 2008, 13:35 | | (268 Reads)
 
    VŨ ĐẢM
    Hàng vạn người, họ là chính khách, nhà khoa học, nhà văn hoá, cựu chiến binh và thường dân đến tham quan  Khu du lịch sinh thái- văn hoá Vực Quành thuộc xã Nghĩa Ninh, thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình đều nghĩ rằng ông Nguyễn Xuân Liên- chủ nhân của Khu du lịch này hẳn phải là một người dân Quảng Bình đã từng sống trên mảnh đất này.
  

    Nhờ có tiền do hai người con trai của ông Liên đang sinh sống ở bên Đức gửi về, cộng với tiền ông tích góp được  nên chỉ sau vài năm cái làng chiến tranh của ông đã dần dần hình thành. Ngay sau khi bước vào cổng làng, tôi và mọi người đã thấy đập vào mắt là cái hố bom to như cái ao, quanh hố bom là những quả bom bi, bom tạ, bom sát thương, đuôi tên lửa, những chứng tích chết người mà kẻ thù đã gieo rắc trên mảnh đất khói lửa Quảng Bình. Men theo con suối, qua cái cầu phao, sang bên kia là ngôi nhà tưởng niệm các liệt sĩ. Trong ngôi nhà có bát hương, những tấm bia đá khắc ghi danh sách 4.300 liệt sĩ của các tỉnh Hải Phòng, Thái Bình, Hưng yên, Hà Tây, Hà Nội, Hà Tĩnh, Nghệ An vv... đã hy sinh trên mảnh đất Quảng Bình. Ông Liên bảo với tôi, danh sách các liệt sĩ này do chính ông đi đến các nghĩa trang ở Quảng Bình ghi chép rồi thuê thợ tạc vào bia đá; ông cũng đã gửi thư cho các thân nhân liệt sĩ và đã có 30 gia đình tìm được mộ liệt sĩ thông qua thông tin của ông.

 Nhà tưởng niệm liệt sĩ
   Thắp hương cho các liệt sĩ xong, chúng tôi đi theo những con đường mòn, những đường hào tiến sâu vào trong làng. 15 ngôi nhà tường đất, mái tranh giống như những ngôi nhà dân ở  trong chiến tranh thấp thoáng hiện lên trong cây rừng. Bước vào trong nhà, chị Luyến giúp việc kiêm hướng dẫn viên chỉ vào chiếc hầm chữ A, bảo đó là hầm tránh bom; chỉ vào những chiếc bao tải được xếp chồng lên nhau, bảo đó là những bao gạo mà các đơn vị bộ đội gửi ở nhà dân. Những năm tháng chiến tranh chống Mỹ, nhà của mỗi người dân cũng là nơi trú chân của bộ đội, là nơi chứa lương thực thực phẩm của bộ đội; dân làng đói lắm thế nhưng không một ai động đến một hạt gạo của bộ đội, lòng tự trọng, tinh thần hy sinh vì Tổ quốc đã khiến họ trong sáng đến vô ngần, người dân có thể hái lá rừng, đào măng rừng mà ăn chứ quyết không ăn gạo của những người lính. Hơn nữa, nhà nào mà chả có người ra trận, nhà ít thì một người, có nhà cả nhà cùng tham gia chiến đấu, nếu không là bộ đội thì cũng là dân quân du kích, thanh niên xung phong, dân công hoả tuyến; ăn gạo của bộ đội cũng đồng nghĩa với việc ăn cơm của chồng con mình.
    Bây giờ cuộc sống của người dân nơi đây vẫn còn nghèo khó nhưng họ vẫn sống trong sáng, đói cho sạch, rách cho thơm. Nhưng buồn quá, ông Liên bỗng thở dài, tôi hỏi ông sao lại buồn, ông bảo người dân thì  nghèo thì trong sạch là thế nhưng cái bọn quan tham thì lại vơ vét của dân, làm giàu, ăn chơi sa đọa trên mồ hôi nước mắt của dân. Tôi vấn an ông Liên, Đảng và Chính phủ đang tuyên chiến với nạn tham nhũng, Quốc hội cũng đã Ban hành Luật Phòng chống tham nhũng, sớm hay muộn cái bọn "giặc" nội xâm còn nguy hiểm hơn cả bọn giặc xâm lược cũng sẽ bị lôi hết ra vành móng ngựa.
    Dẫn chúng tôi vào một căn hầm có những chiếc nôi, chị Luyến cho biết đây là nhà trẻ, những chiếc nôi dùng để ru trẻ được làm bằng mây tre; một thời, tiếng bom đạn làm những đứa trẻ giật bắn mình, khóc thét lên vì sợ hãi thì tiếng ru à ơi của người mẹ lại làm cho chúng lim dim đi vào giấc ngủ bình yên. Dưới sự dẫn dắt của chị Luyến, chúng tôi tiếp tục đi đến lớp học có kê những bộ bàn ghế đóng bằng tre và gỗ rừng; đến phòng mổ trong lòng đất, một vài cựu chiến binh đi cùng tỏ ra xúc động khi sờ vào chiếc bàn mổ và chiếc đèn mổ thời chiến, có lẽ họ đang nhớ lại cái ngày mà chính mình bị thương và đã được đưa lên bàn mổ kiểu này!
    Làng chiến tranh của ông Liên, ngoài những cái làm mô phỏng với những nguyên vật liệu thật, thì có nhiều cái tồn tại từ thời chiến tranh như Ụ súng 12ly 7 phòng không của dân quân xã Nghĩa Ninh; Đường ống dẫn dầu Bắc- Nam gồm  hai tầng nổi và chìm dưới suối; Cây cầu ngầm mà ngày xưa bộ đội đi vào kho quân giới; Đường giao liên, bộ đội hành quân vào Nam. Ông Liên cho tôi biết một vấn đề lịch sử lý thú của dòng họ Đào ở làng Trung Nghĩa, làng mà ông  xây dựng Làng chiến tranh. Khi Đào Duy Từ cùng các tướng lĩnh tiến hành xây dựng hệ thống Luỹ thầy giúp chúa Nguyễn chống lại chúa Trịnh trong thời gian từ 1630 đến 1633, Đào Duy Từ đã đưa người của dòng họ Đào từ Thanh Hóa vào làng Trung Nghĩa đắp lũy, họ lập gia đình, sinh con đẻ cái mà thành họ Đào. Anh Đào Hữu Toàn, chồng của chị Luyến chính là huệ duệ của họ Đào. 
    Ngồi trong căn nhà được cất cao ráo dành cho khách tham quan dừng chân nghỉ ngơi, chúng tôi được uống thứ nước cây lá rừng mát mẻ, chị Luyến bảo lá của cây này có thể hái quanh năm nhưng tốt nhất là hái vào giữ trưa Tết đoan ngọ mồng 5 tháng 5 âm lịch hàng năm  vì thế mà loại lá này có tên gọi dân gian là lá  mồng năm. Nhân lúc chị Luyến rỗi việc thuyết minh, tôi bắt chuyện:
- Chị làm ở đây lâu chưa? Một tháng được ông Liên trả bao nhiêu?
  Chị Luyến đáp:
- Vợ chồng em giúp việc cho bác Liên từ những ngày đầu, thấy bác mãi từ Hà Nội còn vào được đến đây để làm cái công việc đầy ân nghĩa, lẽ nào mình là người địa phương lại không giúp bác!
  Một tháng hai vợ chồng chị Luyến được ông Liên trả công 1,5 triệu, số tiền tuy nhỏ nhưng đó cũng là một cố gắng của ông Liên, bởi cái làng chiến tranh của ông tuy một năm có tới 5-7 ngàn người đến tham quan nhưng ông chưa thu tiền vé. Ngay bản thân ông Liên cũng chỉ sống nhờ vào 2,2 triệu tiền lương, trả cho vợ chồng chị Luyến 1,5 triệu; vợ chồng chị Luyến còn cấy ruộng, chăn nuôi nên vẫn đủ sống, còn ông Liên, may mà có hai người con sống ở bên Đức thỉnh thoảng lại gửi tiền về tiếp tế chứ không ông khó mà sống nổi với 700 ngàn còn lại.Tôi hỏi ông Liên tại sao ông không tiến hành bán vé mà chỉ đặt hòm công đức, ông Liên có vẻ hài hước:
- Khi nghe tin tôi bán nhà ở Hà Nội để vào đây, bạn bè bảo tôi là thằng điên, bao nhiêu người giàu có, bao nhiêu quan chức ở các tỉnh đều đổ xô về Hà Nội để mua nhà, sau này về hưu lên thủ đô sống thế mà tôi lại làm ngược lại.
- Thế bây giờ, họ còn bảo ông điên nữa không?
- Không, sau khi vào tận đây, mắt thấy tai nghe việc tôi làm mang nhiều ý nghĩa, họ không bảo tôi điên nữa mà gọi tôi là Bá tước " Đông- ki- sốt"
- Đông- ki- sốt?

   Ông Nguyễn Xuân Liên
      Tôi trợn tròn mắt hỏi lại ông Liên và sợ ông có sự nhầm lẫn gì chăng, tôi giải thích cho ông biết, Đông- ki- sốt chính là nhân vật Đôn Kihôtê trong tiểu thuyết được đánh giá là cuốn tiểu thuyết hay nhất mọi thời đại " Đôn Kihôtê- nhà quý tộc tài ba xứ Mantra" của đại văn hào Xervantex. Ông Liên gật đầu xác nhận. Như vậy là ông- "Bá tước Đông-ki-sốt" đang đánh nhau với cối xay gió? Tôi nửa đùa nửa thật hỏi ông Liên, ông bảo đúng vậy, chỉ có điều dưới con mắt của Đôn Kihôtê thì những chiếc cối xay gió là những tên khổng lồ  hung ác, cần phải tiêu diệt cho bằng hết; còn dưới con mắt của ông,"Những cối xay gió" mà ông đang phải chống lại chính là nạn tham ô, ăn cắp và thủ tục hành chính quan liêu.
  Biết được việc làm của ông Nguyễn Xuân Liên rất có ý nghĩa đối với việc tôn vinh sự hy sinh của bộ đội và người dân trong chiến tranh, đồng thời góp phần giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ cho nên lãnh đạo tỉnh Quảng Bình rất ủng hộ ông; ngày 17/11/2004, UBND tỉnh đã ra Quyết định số: 3931/QĐ-UB, phê duyệt Quy hoạch chi tiết xây dựng Khu du lịch Sinh thái Văn hoá- Vực Quành tại xã Nghĩa Ninh, thành phố Đồng Hới cho ông Liên nhưng hơn 5 năm nay các cơ quan chức năng ở Quảng Bình vẫn chưa cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông. Chính vì thế mà ông sẽ phải chịu thiệt thòi khi đóng thuế đất theo thời giá bây giờ; không những thế, có lần Đội quản lý trật tự đô thị đã vào Khu du lịch của ông phá dỡ một số công trình, ông phải lên tỉnh kêu cứu họ mới thôi. Cũng vì không có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên ông không dám kêu gọi đầu tư  và cái làng chiến tranh của ông vẫn còn dang dở; nhiều hạng mục cũng đã bắt đầu xuống cấp, ông xót xa lắm. Ông Liên còn cho biết, có một Trại lợn bên cạnh đã lấn đất Khu du lịch của ông 11m theo chiều ngang, trên bản đồ qui hoạch từ mốc A đến mốc B dài 56, nay chỉ còn 45 m. Ông ra kêu xã nhưng một cán bộ bảo rằng ông là người Hà Nội, không phải là người địa phương, họ phải bênh người địa phương! Trại lợn còn gây ô nhiễm môi trường. Vào những ngày gió Nam, người dân thôn 7 bị ngửi mùi hôi thối, còn ngày gió Nồm thì Khu du lịch sinh thái của ông phải hứng chịu, ngay cả nguồn nước hồ cũng bị ô nhiễm. Năm 2007, Khu du lịch của ông bị bọn nghiện hút cạy cửa kho vào lấy tất cả những gì bằng nhôm, đồng như mảnh máy bay, bom napan, rốckét; đường ống dẫn dầu tầng nổi bị bóc dỡ hết từ trước khi ông đến đây nhưng ông Liên đã có đủ nguyên vật liệu để chuẩn bị khôi phục lại đường ống này. Năm 2008, Khu du lịch bị chúng khênh mất quả bom nặng 250kg. Để tránh mất cắp, ông Liên đành phải cất giữ những thứ quí hiếm ở ngay trong ngôi nhà mà mình ở, chỉ khi nào có khách, ông mới lấy ra cho khách xem. Ví  như " Cây nhiệt đới", ông Liên hiện có một cây, nó là một loại thiết bị thu phát nằm trong kế hoạch" Hàng rào điện tử Mác-na-ma-ra"; kế hoạch này ra đời năm 1966, ngốn mất 1.600 triệu đôla, quân Mỹ đã rải từ 12-20 ngàn cây nhiệt đới xuống đường Trường Sơn và dọc theo vĩ tuyến 17 từ cửa Việt( Quảng Trị) lên đến Sêpôn( Lào) nhưng chúng đã thất bại vì đã bị bộ đội ta vô hiệu hoá; thậm chí còn bị bộ đội làm tín hiệu giả để những cây nhiệt đới được gọi là những con mắt thần thông minh phát tín hiệu về trung tâm, sau đó ít phút  máy bay Mỹ bay đến dội bom phá núi, giúp bộ đội lấy đá làm đường!
  Cuộc chiến đấu của "Bá tước Đông-ki-sốt"- Nguyễn Xuân Liên với những chiếc" Cối xay gió" xem ra chưa có hồi kết khi có kẻ đã bắn tin cho ông biết sẽ tranh chấp và đuổi ông ra khỏi mảnh đất này. Và vào lúc 19h30, ngày 11/8/2008, một ngôi nhà trong hệ thống 15 ngôi nhà chiến tranh nằm trong Khu du lịch của ông Liên đã bị đốt cháy. Ông Liên xót xa trao đổi với tôi, trong ngôi nhà này hiện lưu giữ những nông cụ, đồ dùng thường ngày của người nông dân Quảng Bình trong chiến tranh bị thiêu rụi hết và dù có tiền cũng không thể mua lại được nữa!
  Sống ở đời, muốn làm một việc tốt cũng khó, muốn làm một người tốt càng khó hơn nhưng tôi và tất cả những ai đã từng đến Làng chiến tranh đều tin công việc đầy ý nghĩa mà ông Liên đang làm vẫn sẽ phát triển trên mảnh đất mà máu đào của các chiến sĩ, của nhân dân Quảng Bình đã đổ xuống vì độc lập, tự do cho Tổ quốc như lời mà nguyên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu đã ghi trong sổ cảm tưởng khi đến thăm Khu du lịch đặc biệt của ông:" Đồng chí Nguyễn Xuân Liên, một cựu chiến binh ngành y của Quân đội nhân dân Việt Nam, với tâm huyết- nhiệt tình- sáng tạo mà đứng ra dựng lên một phần những hình ảnh về cuộc chiến tranh chống Mỹ của nhân dân Quảng Bình, nơi địa đầu chống chiến tranh phá hoại của quân xâm lược Mỹ. Tôi rất hoan nghênh, mong chính quyền địa phương giúp đỡ để khu vực này góp phần giáo dục các thế hệ nay và mai sau". 
 
  Quảng Bình- Hà Nội, tháng 5-  9/2008

 Hố bom trong Làng chiến tranh

Bởi Khu du lịch của ông Liên  nằm trên diện tích hơn 10ha, không có cảnh sơn thuỷ hữu tình, chim kêu vượn hót mà một Làng chiến tranh mô phỏng. Phải là một người dân địa phương, yêu quê hương, ông mới lập nên một Khu du lịch độc nhất vô nhị này chứ? Không, hoàn toàn không, ông sinh ra và lớn lên trên quê hương Sơn Đồng, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây; năm 1961, sau khi học xong kế toán, ông  được điều vào làm việc ở trường Y sĩ Quảnh Bình đóng trên mảnh đất Lộc Ninh, huyện Quảng Ninh, sau chuyển lên Phúc Trạch- Lâm Trạch tỉnh Quảng Bình cho đến mãi năm 1970, ông được chuyển ra Bắc làm việc tại  Đại học Y khoa miền núi( nay là Trường Đai học Y Thái Nguyên). Năm 1983, ông chuyển về Hà Nội, công tác tại Viện Châm cứu Trung ương cho đến năm 2003 thì nghỉ hưu. Mảnh đất ông đã sống và làm việc trong những năm tháng chiến tranh bị bom đạn tàn phá ác liệt, nó ám ảnh ông mãi mãi trong cuộc đời nên ngay cả sau này đã  sống giữa thủ đô Hà Nội bình yên, ký ức về chiến tranh luôn hiện về trong ông. Ông kính phục những người lính đã anh dũng hy sinh, những người dân chịu bao mưa bom bão đạn vẫn trung kiên bám đất bám nhà để lấy chỗ cho bộ đội nghỉ ngơi, để lấy chỗ cất giấu lương thực thực phẩm cho tiền tuyến. Trong tâm khảm ông, ông còn vô cùng biết ơn những người dân trong chiến tranh, họ đã cưu mang cứu sống ông, không có họ chắc giờ đây ông cũng đã nằm sâu dưới lòng đất. Năm 1992, sau gần 30 năm, ông quay lại mảnh đất nơi ông đã sống là làm việc, ông ngỡ ngàng và tiếc nuối, tất cả nhà cửa, hầm hào, cùng các công trình phòng không nhân dân đã bảo vệ đồng bào, chiến sĩ trong cuộc chiến đấu chống lại chiến tranh phá hoại đã không còn dấu tích gì vì người dân đã phải phá bỏ, san lấp để lấy đất sản xuất và sinh hoạt. Riêng một bộ phận người dân thị xã Đồng Hới- những người trước tháng 4/1965 có nhà, có đất ở thị xã phải đi sơ tán trong chiến tranh đã không được trở về mảnh đất xưa của gia đình mình. Người dân, trong chiến tranh, họ đã hy sinh cả xương máu cho dân tộc, nay hoà bình họ lại bị thua thiệt nhiều quá,  thế rồi trong ông nảy ra cái ý tưởng lạ lùng" Lập một làng chiến tranh" mô phỏng giống như làng trong chiến tranh thời chống Mỹ ác liệt. Nung nấu ý tưởng trong hơn 10 năm, tháng 3 năm 2003, về hưu, ông quyết tâm thực hiện bằng được ý tưởng của mình, dời bỏ thủ đô, một thân một mình vào Quảng Bình sinh sống. Vợ ông không đồng ý, ông đành bán ngôi nhà phố  Vĩnh Hồ, quận Đống Đa, Hà Nội được 1,5 tỷ, chia cho vợ một nửa còn 820 triệu ông vào Quảng Bình mua hơn 10 ha đất 327- đất đồi rừng ở xã Nghĩa Ninh. Đúng vào ngày Thương binh - liệt sĩ 27/7/2003, ông Liên dựng 2 ngôi nhà đầu tiên, hôm khởi công cả đại gia đình ông, từ mẹ ông đến các con ở nước ngoài, các cháu ở Hà Nội đều vào dự làm ông thêm vui nhưng cũng chỉ được vài ngày, người thân của ông lại ra đi. Những ngày đầu, một mình sống trong miền rừng đồi hoang vu, ông cảm thấy cô đơn lắm, may mà có thêm hai vợ chồng anh Toàn- chị Luyến là người bản địa giúp việc cho ông nên cuộc sống của ông cũng đỡ cô quạnh.

Thứ Tư, 6 tháng 6, 2012

Điều này tốt cho cả hai nước. Nó tốt cho tất cả những người lính đã nằm xuống cho cả hai bên

Tuesday, June 05th, 2012 | Author: GS Nguyễn Đăng Hưng

Bộ trưởng Thanh nhận từ ông Panetta cuốn nhật ký của một bộ đội Việt Nam hi sinh trong chiến tranh.
Bộ trưởng Thanh nhận từ ông Panetta cuốn nhật ký của một bộ đội Việt Nam hi sinh trong chiến tranh.

Những bức thư của binh sĩ Mỹ tử trận

ở Việt Nam

Phan Lê (Vnexpress)

“Nếu cha gọi, mẹ hãy nói rằng con ở rất gần cái chết, nhưng con không sao. Con thực sự rất may mắn. Con sẽ viết thêm thư cho mẹ, sớm thôi”, trung sĩ Mỹ Steve Flaherty viết vội trước khi tử trận ở Việt Nam.

Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Phùng Quang Thanh trao những bức thư của trung sĩ Steve Flaherty cho người đồng cấp Mỹ Leon Panetta tại Hà Nội hôm qua.
Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Phùng Quang Thanh trao những bức thư của trung sĩ Steve Flaherty cho người đồng cấp Mỹ Leon Panetta tại Hà Nội hôm qua.
Lá thư xúc động ấy không bao giờ đến được với người mẹ của trung sĩ Steve Flaherty. Anh đã chết ở Việt Nam năm 1969 trước khi có thể gửi những lá thư mang theo người, trong đó có một bức dường như đang được viết đúng trong những thời khắc cuối cùng của cuộc đời. Những lá thư được quân đội Việt Nam tìm thấy sau khi Flaherty chết.
Những lá thư, mô tả sự thảm khốc và tình trạng mệt mỏi trong cuộc chiến, được Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Phùng Quang Thanh chuyển cho người đồng cấp Mỹ Leon Panetta hôm 4/6. Phía Mỹ cũng trao lại cho Việt Nam cuốn nhật ký của chiến sĩ Vũ Đình Đoàn.
Những bức thư của trung sĩ Steve Flaherty
Những bức thư của trung sĩ Steve Flaherty
Đây là lần đầu tiên hoạt động trao đổi kỷ vật chiến tranh chung như thế này được diễn ra. Những bức thư của Flaherty được đại tá quân đội Việt Nam Nguyễn Phú Đạt lưu giữ. Ông Đạt nhắc tới những bức thư này hồi tháng 8/2011.
Đầu năm nay, Robert Destatte, một nhân viên đã nghỉ hưu của Bộ Quốc phòng Mỹ và từng làm việc cho văn phòng tìm kiếm người Mỹ mất tích trong Chiến tranh Việt Nam, biết được thông tin nói trên. Sau đó, Lầu Năm Góc bắt đầu làm việc để hướng tới việc giao lại các lá thư cho gia đình Flaherty.
Các quan chức quốc phòng Mỹ, chịu trách nhiệm nhận những lá thư được chuyển cho ông Panetta, cho hay có khoảng 3 tập gồm nhiều bức thư khác nhau, 4 trong số này là của Flaherty. Những trang viết của trung sĩ này sẽ được giao lại cho gia đình của anh tại bang Nam Carolina.
Chị dâu 73 tuổi của Flahery, bà Martha Gibbons, cho hay bà biết về sự tồn tại của những lá thư cách đây một tháng rưỡi. Gibbons kể rằng chồng của bà gặp Flaherty khi anh còn là một cậu bé 6 tuổi sống trong một trại trẻ mồ côi Nhật Bản. Chồng của Gibbons đã thuyết phục mẹ nhận nuôi đứa trẻ. Flaherty lớn dần và trở thành một thiếu niên khỏe mạnh. Thế rồi, anh bỏ học ở trường cao đẳng để gia nhập quân đội dù có một học bổng bóng chày.
Các bức thư của Trung sĩ Mỹ Steve Flaherty.
Các bức thư của Trung sĩ Mỹ Steve Flaherty.
Gia đình Flaherty biết rằng con em họ đã tới một cánh đồng, nghỉ ăn trưa hoặc viết những lá thư. “Nó chẳng bao giờ cho chúng tôi biết nó sợ hãi và hoảng loạn đến thế nào”, bà Gibbons nói. “Nó đã sống trong nguy hiểm. Chúng tôi biết điều đó thật tồi tệ. Chúng tôi chỉ không biết rằng sự tồi tệ đó như thế nào”.
Gibbons xúc động khi những lá thư của Flaherty được đưa về nước Mỹ. “Điều này tốt cho cả hai nước. Nó tốt cho tất cả những người lính đã nằm xuống cho cả hai bên”, bà Gibbons nói và cho biết thêm rằng gia đình bà sẽ đặt những lá thư bên cạnh những huân chương và lưu bút của Flaherty, cùng với lá quốc kỳ Mỹ.
“Tôi cảm thấy những viên đạn bay qua người”
Những ký ức về cuộc Chiến tranh Việt Nam đang phai mờ dần trong nhiều người Mỹ. Với một số người cuộc chiến này thậm chí chỉ còn tồn tại trong những cuốn sách giáo khoa. Nhưng nó lại trở nên sống động từ những trang viết của trung sĩ Flaherty. Những bức thư, được gửi cho người mẹ Lois và hai phụ nữ khác lần lượt là Wyatt và Betty, cho thấy những cảm xúc của Flaherty về nỗi sợ, và về cả sự quyết tâm.
Bộ trưởng Thanh nhận từ ông Panetta cuốn nhật ký của một bộ đội Việt Nam hi sinh trong chiến tranh.
Bộ trưởng Thanh nhận từ ông Panetta cuốn nhật ký của một bộ đội Việt Nam hi sinh trong chiến tranh.
“Tôi cảm thấy những viên đạn bay qua người”, Flaherty viết cho Betty. “Tôi chưa từng sợ hãi như thế kể từ khi được sinh ra.”
“Chúng tôi chịu rất nhiều tổn thất và thiệt hại nhân mạng”, một lá thư khác của Flaherty có đoạn. “Chúng tôi kéo nhiều thi thể và cả người bị thương đến mức tôi khó có thể nhớ nổi”.
“Cảm ơn vì bức thiệp ngọt ngào. Nó khiến ngày khốn khổ của tôi khá hơn nhiều. Nhưng tôi không nghĩ rằng tôi sẽ quên cuộc chiến đẫm máu mà chúng tôi đang tham gia. … Súng phóng lựu và súng máy thực sự xé toạc balô của tôi.”
Một tấm ảnh được tìm thấy trong cuốn nhật ký của Vũ Đình Đoàn.
Một tấm ảnh được tìm thấy trong cuốn nhật ký của Vũ Đình Đoàn.
Trong một lá thư khác cho mẹ, Flaherty một lần nữa bày tỏ rằng anh sẽ nghỉ ngơi. “Con chắc chắc sẽ nghỉ ngơi và thư giãn. Con không quan tâm là ở đâu, miễn là con có thể được nghỉ, con mong sớm được như thế lắm rồi. Con sẽ cho mẹ biết ngày cụ thể”.
Flaherty, 22 tuổi khi tử trận vào tháng 3/1969, đã được đưa về quê hương để yên nghỉ. Thành viên của Sư đoàn Dù 101 chết tại khu vực phía bắc của miền nam Việt Nam.
Cuốn nhật ký của Vũ Đình Đoàn.
Cuốn nhật ký của Vũ Đình Đoàn.
Flaherty chắc chắn đã được tận mắt chứng kiến những cuộc giao tranh ác liệt. “Trung đội của con lúc đầu có 35 người, nhưng rồi chỉ còn 19 người khi cuộc giao tranh kết thúc”, anh viết cho bà Lois. “Chúng con mất chỉ huy trung đội và nhiều đồng đội”.
Cuốn nhật ký nhỏ của liệt sĩ Vũ Đình Đoàn cũng có một câu chuyện riêng. Nó được một lính thủy đánh bộ Mỹ có tên Robert “Ira” Frazure phát hiện trên người anh. Trong cuốn nhật ký có một tấm ảnh và một ít tiền. Frazure cầm lấy cuốn nhật ký và mang nó về Mỹ.
Một thành viên trong đoàn xem cuốn nhật ký của Vũ Đình Đoàn
Một thành viên trong đoàn xem cuốn nhật ký của Vũ Đình Đoàn
Cuốn nhật ký bắt đầu được biết tới hồi đầu năm nay khi chị gái một người bạn của Frazure tiến hành tham khảo tư liệu cho một cuốn sách. Frazure đã nhờ người này trả lại cuốn nhật ký. Bà Marge Scooter mang cuốn nhật ký tới chương trình truyền hình “History Detectives” của kênh PBS. Chương trình này sau đó nhờ Bộ Quốc phòng và Bộ Ngoại giao Mỹ giúp trao trả cuốn nhật ký.
Phan Lê (Vnexpress)

http://www.ndanghung.com/bai-viet/2012/06/05/%E2%80%9Cdieu-nay-tot-cho-ca-hai-nuoc-no-tot-cho-tat-ca-nhung-nguoi-linh-da-nam-xuong-cho-ca-hai-ben%E2%80%9D.html/

MẢNH MÁY BAY F4J CỦA LT LEONARD JHON SCHOEPPNER

SCHOEPPNER, LEONARD JOHN
Name: Leonard John Schoeppner
Rank/Branch: O3/US Navy
Unit: Fighter Squadron 21, USS RANGER (CVA 61)
Date of Birth: 02 October 1943
Home City of Record: Canton OH
Date of Loss: 09 March 1970
Country of Loss: North Vietnam/Over Water
Loss Coordinates: 174258N 1074658E (YE951608)
Status (in 1973): Killed/Body Not Recovered
Category: 5
Aircraft/Vehicle/Ground: F4J
Refno: 1571
Other Personnel in Incident: Rex L. Parcels Jr. (missing)
Source: Compiled by Homecoming II Project 15 May 1990 from one or more of
the following: raw data from U.S. Government agency sources, correspondence
with POW/MIA families, published sources, interviews. Updated by the P.O.W.
NETWORK 1998.
REMARKS:
SYNOPSIS: The USS RANGER was a seasoned combat veteran, having been deployed
to Vietnam for Flaming Dart I operations. The carrier played a steady role
for the remainder of American involvement in the war. The first fighter jets
to bomb Haiphong in Operation Rolling Thunder came from her decks.
One of the aircraft launched from the decks of the RANGER was the F4 Phantom
fighter jet. The Phantom, used by Air Force, Marine and Navy air wings,
served a multitude of functions including fighter-bomber and interceptor,
photo and electronic surveillance. The two man aircraft was extremely fast
(Mach 2), and had a long range (900 - 2300 miles, depending on stores and
mission type). The F4 was also extremely maneuverable and handled well at
low and high altitudes. The F4 was selected for a number of state-of-the-art
electronics conversions, which improved radar intercept and computer bombing
capabilities enormously. Most pilots considered it one of the "hottest"
planes around.
LT Leonard J. Schoeppner and LTJG Rex L. Parcels Jr. were F4 pilots assigned
to Fighter Squadron 21 onboard the USS RANGER. On March 9, 1970, the two
were assigned a photo reconnaissance escort mission in their F4J Phantom.
Schoeppner was the pilot and Parcels served as the Radar Intercept Officer
(RIO) on the flight.
Schoeppner and Parcels launched at 1200 hours on that day. Their climbout
and aerial refueling were normal. Because of low ceilings and poor
visibility in the reconnaissance aircraft's target area, the escort mission
was cancelled. Schoeppner's aircraft was diverted to their secondary mission
assignment as combat air patrol for the Task Force. The reassignment
occurred about one hour after their takeoff.
Schoeppner reported his position as overhead the RANGER in the Gulf of
Tonkin at 17,000 feet. He was instructed to rendezvous with another squadron
F4, but he failed to contact the newly assigned control agency for the
required vector. Contact between Schoeppner's and Parcels' aircraft and the
ship's search radar was also lost at about this time (1330).
A preliminary search was conducted, using aircraft already airborne in the
vicinity of the carrier. With no success on this preliminary search, the
assistance of other assets was utilized (seven destroyers, seven
helicopters, four A7's, three OV10's, two HC130's, two E1's, one E2, one
C1A, one C131, and one P3). A thorough and detailed coverage of this large
area was attested to by a variety of non-pertinent floating debris recovered
by the SAR force, including objects as small as an old life jacket.
A pilot from the HANCOCK reported that he had seen an F4-type aircraft in a
dive at approximately 4,000 feet. All other F4 pilots airborne at this time
stated that they had not engaged in such a maneuver. The diving aircraft was
thought to possibly be that of Schoeppner and Parcels. With weather
conditions as they were, they may have inadvertently entered a maneuver,
such as a dive, which carried them to an altitude too low to effect a
recovery after their condition was realized.
Schoeppner and Parcels are listed with honor among the Americans still
prisoner, missing or unaccounted for in Southeast Asia because their bodies
were never recovered. Others who are missing do not have such clear cut
cases. Some were known captives; some were photographed as they were led by
their guards. Some were in radio contact with search teams, while others
simply disappeared.
Since the war ended, over 250,000 interviews have been conducted with those
who claim to know about Americans still alive in Southeast Asia, and several
million documents have been studied. U.S. Government experts cannot seem to
agree whether Americans are there alive or not. Distractors say it would be
far too politically difficult to bring the men they believe to be alive
home, and the U.S. is content to negotiate for remains.
Over 1000 eye-witness reports of living American prisoners were received by
1989.  Most of them are still classified. If, as the U.S. seems to believe,
the men are all dead, why the secrecy after so many years? If the men are
alive, why are they not home?

LT Leonard J. Schoeppner

LTJG Rex L. Parcels Jr.