Thứ Sáu, 6 tháng 4, 2012

MỘT TRĂM NĂM HÀN MẶC TỬ

100 NĂM NGÀY SINH HÀN MẶC TỬ (1912 - 2012) VÀ 7 THẬP KỶ BÀI THƠ “ĐÂY THÔN VỸ DẠ”


Có lẽ nếu không có bài thơ "Đây thôn Vỹ Giạ" thì vùng đất xinh xắn kia cũng không nhiều tao nhân mặc khách ghé thăm đến vậy. Nhắc đến bài thơ này người ta sẽ nhớ ngay đến một mối tình điển hình cho sự nuối tiếc bâng khuâng và dường như nó là phông nền của cái đẹp. Bây giờ người thiếu nữ áo trắng xưa vẫn được sương khói của thôn Vỹ giăng phủ khiến bài thơ bản mệnh của Hàn thi sĩ vẫn miên man trong tâm thức của nhiều thế hệ yêu thơ.
Nhân hướng tới 100 năm ngày sinh Hàn Mạc Tử (1912-2012) và 7 thập kỷ bài thơ "Đây thôn Vỹ Giạ", Sông Hương xin trân trọng giới thiệu góc nhìn rất tinh tế của nhà phê bình Đặng Tiến.


Hàn Mạc Tử và bài thơ thôn Vỹ

Đây thôn Vỹ Giạ trong phong trào thơ mới 1932-1945 có lẽ là một trong vài bài thơ phổ biến nhất, đã được đem ra giảng dạy tại nhà trường dưới nhiều chế độ khác nhau, có thể vì nhiều lý do khác nhau. Bài này chỉ nêu lên giá trị nghệ thuật, trên nhiều địa tầng khác nhau.

Bài thơ làm khoảng nửa sau năm 1939, khi tác giả đã bị bệnh phong hủi nặng, đang điều dưỡng tại Quy Nhơn. Thơ làm khi nghĩ tới, hay để gửi cho người tình trong mộng là Hoàng Cúc sau khi nhận được một tấm bưu ảnh bà gửi từ Huế.

Tiểu truyện kể lại rằng, trước đó, 1932, chàng 20 tuổi, nhà nghèo, làm ở sở đạc điền Quy Nhơn. Nàng mười tám, mười chín, gia đình khuê các, thân phụ là cấp trên của Hàn. Hai người có lúc cùng ở chung đường. Tình thơ mộng, đơn phương của tuổi hoa niên. Chàng đã từng làm nhiều thơ ca ngợi:

Xiêm áo đêm nay tề chỉnh quá
Muốn ôm hồn cúc ở trong sương


Sau đó, 1934, nàng theo gia đình về Huế; chàng bỏ việc vào Sài Gòn viết văn, làm báo. Khi biết mình bị chứng nan y, 1936, Hàn về lại Quy Nhơn. Sau đây là lời Hoàng Cúc, tên thật là Hoàng Thị Kim Cúc, trong một lá thư gửi cho Quách Tấn ngày 15-10-1971.

(Sau khi được tin Hàn bị bệnh nặng) «thay vì viết thư thăm, tôi gửi bức ảnh phong cảnh vừa bằng cái carte visite. Trong ảnh có mây, có nước, có chiếc đò ngang với cô gái chèo đò, có mấy khóm tre, có cả ánh trăng hay ánh mặt trời chiếu xuống nước. Tôi viết sau tấm ảnh mấy lời hỏi thăm sức khỏe Tử rồi nhờ Ngâm trao lại. Sau đó một thời gian, tôi nhận được bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ và một bài khác nữa do Ngâm gửi về…». (Hoàng Tùng Ngâm, bạn thân của Hàn, là em con chú với bà Kim Cúc).

Chứng từ giúp ta hiểu thêm hoàn cảnh sáng tác, nhưng bài thơ không phải là minh họa cho tấm bưu ảnh. Điều đặc biệt là không khí trong sáng, dịu dàng của tác phẩm hoàn toàn tương phản với căn bệnh ngặt nghèo đang vào thời kỳ cuối của tác giả, lúc đó. Theo hồi ký của Nguyễn Bá Tín, em ruột của Hàn:

«Những năm 1938-1939, nhất là năm 1939, anh đau dữ dội hơn hết. Tâm trạng anh biến đổi nhiều qua thơ anh. Giai đoạn này anh sống nửa mơ nửa thực, thường hay xuất thần không biết gì (tr.90)».

Trích dẫn hai khổ thơ đầu, ông Tín cho thông tin: «Hai loại thơ nói trên được sáng tác trong cùng một giai đoạn, trong cùng một hoàn cảnh bệnh tật. Cùng trong túp lều tranh xơ xác, dưới cây phượng vĩ tàn tạ, bên bờ biển hoang vắng mà hai trạng thái tâm hồn hoàn toàn khác biệt nhau tùy theo cảm hứng. Tâm trí anh từ ngày đau nặng, vẫn mơ ước thoát khỏi thân tàn ma dại, khỏi không gian và thời gian [1]…». Trong một hồi ký vừa được in thành sách mới đây, 2010, Bùi Tuân, bạn thân Hàn Mạc Tử đã xác nhận đời sống cơ cực này, tại một xóm nghèo cạnh Quy Nhơn.

Chứng từ như thế thật quý giá. Tuy nhiên, trong một ấn bản sau, Hà Nội 1994, cũng về hai khổ thơ đầu, ông Tín lại giải thích khác đi. (Xem chú thích số 4 đoạn dưới).

Như vậy, chúng ta đã có cái khung về hoàn cảnh sáng tạo bài thơ, giữa năm 1939. Nhưng văn bản xuất hiện lần đầu, ở đâu, thì chúng tôi không biết, chỉ dựa theo văn bản trong sách Trần Thanh Mại, 1941. Ông xếp bài thơ vào thi tập Xuân Như Ý, dưới tên Đây Thôn Vỹ Giạ (tr.223), chúng tôi tôn trọng chính tả này. Ấn bản sau đó, 1942, Hoàng Trọng Miên xếp vào tập Đau Thương, dưới chính tả Vỹ Dạ, thịnh hành ngày nay, và dưới tên Hàn Mặc Tử.

*

Sao anh không về chơi thôn Vỹ
Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên…


Là một trong dăm ba câu thơ đẹp và trong sáng nhất trên nền trời thơ Việt Nam. Thần diệu trong đơn giản, câu thơ gợi lên một không gian đơn sơ nhưng tuyệt vời - và không gian ngoại thành Huế ấy cũng là phong cảnh quê hương chung của chúng ta, mà có lần Văn Cao đã khắc họa «bóng cau với con thuyền, một dòng sông».

Đây Thôn Vỹ Giạ gồm 3 đoạn, đều cấu trúc trên nhiều câu hỏi, mở đầu bằng chữ Sao. Chữ sao, nghi vấn và biểu cảm, khơi nguồn một bài thơ, sẽ là một đặc sắc của thơ mới:

Sao buổi đầu xuân êm ái thế… (Xuân Diệu)

Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong… (Thâm Tâm)

Nhạc điệu tân kỳ: câu thất ngôn Việt Nam nhịp 3/4; câu thơ đường luật nhịp 4/3. Câu thơ Hàn Mạc Tử khác lạ, khoan thai, tự nhiên 2/3/2

Sao anh / không về chơi / thôn Vỹ

Sáu âm bằng liên tiếp, nhịp những bước chân đều, dừng lại ở âm trắc cuối câu. Mãi sau này ta mới gặp âm điệu ấy ở Nguyễn Đình Thi:

Ngôi sao trong đêm không bao giờ tắt

Hay trong Bên kia Sông Đuống của Hoàng Cầm:

Anh đưa em về sông Đuống…

…Ai về bên kia sông Đuống

…Bao giờ về bên kia sông Đuống


Độ dài ngắn từng câu có phần xê xích, nhưng âm hao thì gợi nhớ câu thơ Hàn Mạc Tử.

Địa danh sông Đuống đưa âm trắc bất thường về cuối câu, nhắc đến tên thôn Vỹ.

Trần Thanh Mại [2] là người uyên bác và đã dày công đưa ra chuyên luận đầu tiên về một nhà thơ đương đại, và đề cao Hàn Mạc Tử, từng ca ngợi bài thơ này như một «viên ngọc vô ngần quý giá (tr.60), nhưng lại chê câu đầu là một «sơ suất»: câu ấy là một câu nói thường chứ không thể là một câu thơ, «Vỹ» cũng không vần với «lên» với «điền» hay với «ngọc» được (tr.224).

Hàn Mạc Tử hoàn toàn theo đúng âm luật khi dùng vần trắc như thế, như ông đã làm nhiều lần: «trăng nằm sóng soải trên cành liễu», và như Huy Cận viết «sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp». Chỗ này, ngược lại, là một «sơ suất» của chính Trần Thanh Mại, có lẽ vì chủ quan và viết vội. Còn nói rằng, đây «là một câu nói thường, không thể là một câu thơ» là một lỗi thẩm âm. Thơ hay, là khi câu thơ đi gần tới văn xuôi mà không phải văn xuôi; văn xuôi hay là khi câu văn đi gần tới thơ nhưng không là thơ. Ví dụ từ Xuân Diệu:

Đã nghe rét mướt luồn trong gió
Đã vắng người sang những chuyến đò


Câu trước văn vẻ, trau chuốt, hay cái hay thông thường của văn chương; câu sau hồn nhiên, hay cái hay kỳ diệu của chất thơ, một nghệ thuật vượt qua kỹ thuật. Câu thơ hay thường khi là ngôi sao sáng một mình, mà Roman Jakobson gọi là hiện tượng câu thơ mồ côi, không phải trường hợp câu «sao anh không về chơi thôn Vỹ», vì âm điệu mà ông Mại cho là «trái tai», đã chuẩn bị cho một câu khác, ở phần sau, cũng ngoại luật:

Mơ khách đường xa khách đường xa

Bình thường, theo âm luật, thì trong câu thơ thất ngôn, chữ thứ hai và thứ sáu phải cùng một thanh, hoặc bằng, hoặc trắc.
 
Bài Đây thôn Vỹ Giạ là một trong ba bài Trần Thanh Mại đưa ra để chứng minh rằng «hầu hết thơ bảy chữ của Hàn Mạc Tử không kể bài thơ dài ngắn, đều đã theo luật bằng trắc của Đường thi (…) âm điệu hiển nhiên, bất di bất dịch, không còn bác bẻ được nữa» (tr.222). Nhưng… Hàn đã bác bẻ: bài thơ thôn Vỹ gồm ba đoạn mà cả hai đoạn đầu… không niêm. Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Bính… không bao giờ làm thơ «thất niêm» như vậy.

Nêu lên vấn đề này, không phải để đôi co với Trần Thanh Mại - người tôi cảm phục - mà chỉ để nói rằng, trên câu thơ mở đầu một bài thơ được truyền tụng vẫn có đôi điều cần thưa đi gửi lại.

Ngay từ Sao khơi nguồn bài thơ đã là một từ ý nhị và tế nhị. Bình thường nó là từ nghi vấn. Nhưng khi viết «Ôi nắng vàng sao mà nhớ nhung» thì Huy Cận không hỏi ai điều gì.

Trong truyện Kiều, Nguyễn Du dùng chữ sao 73 lần, có khi trong 4 câu liên tiếp: «khi sao…, giờ sao… mặt sao… thân sao…», nhưng thường dùng trong chức năng biểu cảm.

Từ sao đầu bài thơ dào dạt nhiều tâm tình, chủ yếu là lòng chờ đợi, mà ta đã gặp trong những bài thơ đầu tay của Hàn như trong Tình Quê:

 …Cách nhau ngàn vạn dặm
 Nhớ chi đến trăng thề
Dầu ai không ngóng đợi
Dầu ai không lắng nghe…


Hai khổ thơ sau cũng cấu trúc trên thể nghi vấn, «thuyền ai… có chở… ai biết», nhưng không để hỏi, dù là tự hỏi, mà chỉ thể hiện lời đối thoại nội tâm, như những vòng sóng gợn lăn tăn trên mặt hồ. Những trầm tư hòa điệu kỷ niệm với ước mơ, những tiếc nuối mông lung, nhớ nhung bàng bạc, những tình cảm không tên, có khi đã man mác trôi qua hay chập chờn chưa hình thành. Những dự phóng, hồi quang dang dở. So đo, đem từng câu thơ ra diễn giảng một cách duy lý là không thể. Dịch ra tiếng nước ngoài cũng khó.

*

Sao anh không về chơi thôn Vỹ


Thanh điệu làm nổi bật chữ «về», dấu huyền, giữa câu, đáng lẽ phải là âm trắc theo quy luật Gió theo lối gió, mây đường mây. Chữ «về», đắc địa và đắc ý, là một từ rất Huế. Người Việt dùng chữ về để diễn tả sự trở lại: về nhà, về làng, về nước, về nguồn…; người Huế, đi đến nhà bạn, ở xa, cũng dùng chữ «về», thân ái, tâm tình. Mỗi tình bạn là một quê hương, một đợi chờ, «một cõi đi về» như tên bài hát của một người Huế, Trịnh Công Sơn. Lại mang máng nhớ thêm: «Sao em không về… Trong cơn đau vùi… Làm sao có nhau…» Phạm Duy, không phải người Huế, cũng viết Về Miền Trung, và đã tế nhị lập lại nhiều lần động từ về trong nghĩa tâm tình đó. Mà về, thôn Vỹ xa xôi, chỉ để «nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên».

Tiếng Việt phân biệt nắng với mặt trời. Thấy nắng trước khi thấy mặt trời; câu thơ diễn tả niềm vui, có khi là hạnh phúc, khi bắt gặp tia nắng trên đọt cau, rồi mới ý thức được ánh sáng ngoại giới, êm ả như cảnh Nắng trong vườn của Thạch Lam. Nắng đẹp thường là nắng mới, và nắng sớm; và đẹp nhờ thiên nhiên phản chiếu. Cây cau đẹp vì thân mảnh mai cao vút, cắt những tàu lá nhọn rủ xuống trên nền trời; lá trúc cũng vậy. Tàu cau, cành trúc giúp ta yêu một màu trời, nâng tầm nhìn và tầm suy nghĩ lên cao để yêu một khóm mây, một làn gió, một tia nắng quái, một mảnh trăng non.

Người Huế, chính xác hơn là người Vỹ Dạ, Bửu Ý đã có lời ca ngợi tàu cau trong bóng nắng chiều thậm hay: «Ở làng quê, cây mau cao nên chiều mau xuống (…). Tàu cau nhễu bớt bụi sáng xuống nụ tầm xuân. Chị ru em bằng tiếng hát bèo trôi» [3].

Nắng mới lên thoạt tiên trên những đọt cau có khi còn lóng lánh sương đêm, rồi mới xuống dần, xuống dần, theo từng đốt thân cau, cao và thẳng đứng, xuống dần đến mảnh vườn xanh như ngọc.

Vườn ai mướt quá

Từ «ai» đã từng gây hiểu lầm. Nó là từ phiếm định, không chỉ riêng vườn của một chủ nhân nào cụ thể, mà có nghĩa là một mảnh vườn nào đó, của ai đó, như chữ ai trong câu cuối tiểu thuyết Đôi Bạn của Nhất Linh «đèn nhà ai mới thắp, yếu ớt trong sương, trông như một nỗi nhớ xa xôi đang mờ dần…». Vì tính cách phiếm định đó mà trong các bản dịch ra tiếng Pháp của nhà xuất bản Ngoại văn, Hà Nội (1975, tr. 438), hay Gallimard-Unesco, Paris (1981, tr. 149), người dịch đã sử dụng số nhiều «les jardins», thậm chí «mặt chữ điền» cũng số nhiều. Bản Peras và Vũ Thị Bích, Paris (2001, tr.161) dịch vườn ai thành «un jardin» cũng trong thể phiếm chỉ.

Sở dĩ phải dài dòng như vậy, vì gần đây, có người giải thích «vườn ai» là ám chỉ vườn bà Kim Cúc, khiến bà đã bất bình vì vườn bà không trồng cau, là loại cây «bình dân», «và cũng không ai trồng cau ở Vỹ Dạ» [4]

*

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền


Vườn. Ôi vườn xưa trong những bóng trưa! Người xưa tượng trưng hạnh phúc địa đàng trong một khu vườn. Tôi mường tượng là một khu vườn thôn Vỹ, đơn sơ như lời tả của Bửu Ý, bạn tôi: bụi hóp sống chung với hàng chè tàu, vườn trước thì nở tằn tiện một hai khóm hoa đủ làm vui mắt người đi đường. Đã có người gọi đồng bằng sông Cửu Long là văn minh Miệt Vườn, cũng có người gọi văn hóa Huế là văn hóa Vườn, mà Lê Quý Đôn đã từng ca ngợi. Vườn ai mướt quá… Âm hao mềm mại, óng ả, lưu luyến nhờ những nguyên âm đôi, làm nổi bật chữ ai dịu dàng, tình tứ, rất Huế: ai ngồi ai câu, ai sầu ai thảm, ai thương ai cảm, ai nhớ ai mong… thuyền ai thấp thoáng trên sông.

Lá trúc che ngang… Lá trúc ở đây, là rào dậu, phân định ranh giới của vườn. Không rào dậu thì không thành vườn.Vườn là một địa phận môi giới, giữa cõi trong và cõi ngoài, chưa phải là cõi riêng nhưng không còn là của chung. Là trung gian giữa thiên nhiên và văn hóa. Là nhân loại chuyển mình từ đời sống du mục sang đời sống định cư, là giấc mơ đoàn tụ giữa Chức Nữ với Ngưu Lang, lời tình tự lứa đôi, có cu gáy và bướm vàng nữa chứ… Là hạnh phúc có khi đang thực tại, có khi trong ước mơ hay niềm tiếc nuối một thiên đường đã mất. Thiên đường xanh những mối tình thơ dại, chẳng hạn, như thơ Baudelaire, một trong những bậc thầy của Hàn Mạc Tử.

Hãy trả lại cho Hàn Mạc Tử hàng cau thôn Vỹ trong những vườn trăng: «ai nói vườn trăng là nói vườn mơ. Ai nói bến mộng là nói bến tình. Người thơ là khách lạ đi giữa nguồn trong trẻo».

Câu văn này, mở đầu lời Tựa tập Thơ Điên, tình cờ thôi, như cô đọng cả bài thơ Thôn Vỹ, một dòng suối tuôn ào ra khỏi tâm tư. Nó là một tâm cảnh, một thực thể duy nhất, cần được nhìn và cảm nhận như một tổng hòa toàn bích, và cảm nhận bằng trực quan thẩm mỹ.


Một tác phẩm nghệ thuật, bản nhạc, bài thơ, bức tranh, là sáng tác của một cá nhân nghệ sĩ, trong một khoảnh khắc, một địa phương nhất định, nhưng đồng thời nó cô đúc rung cảm của nhân loại từ muôn nơi, muôn thuở. Câu thơ:

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay


Không khỏi gợi nhớ một câu của Trương Nhược Hư (đầu thế kỷ 8) trong Xuân giang hoa nguyệt dạ (Đêm hoa trăng trên sông xuân, nguyên là tên một điệu hát xưa):

Thùy gia kim dạ thiên chu tử
Hà xứ tương tư minh nguyệt lâu.


(Nhà ai đêm nay dong thuyền nhỏ
Chốn nào tương tư lầu sáng trăng)

Không cần dịch khó khăn, tôi bê nguyên câu thơ HMT vào:

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
(Trăng sáng lầu ai thương nhớ ai)


Xem đại ý, thậm chí lấy từng chữ ra mà so, cũng không xê xích bao nhiêu. Mà cũng chưa chắc Hàn Mạc Tử đã biết Trương Nhược Hư. Nghệ thuật quả là một thế giới kỳ diệu.

Sau đó:

Mơ khách đường xa, khách đường xa

Là một câu thơ khó hiểu. Ai mơ, chủ từ của động ngữ là gì? Người dịch ra tiếng nước ngoài, để tạo mạch lạc với câu tiếp theo, thường cho khách đường xa làm chủ từ. Đây là một trong nhiều cách tiếp cận; nhưng câu thơ có thể không duy lý, mà chỉ là lời lẩm bẩm trong một giấc mơ thức tỉnh, và cả đoạn thơ chập chờn như một giấc mơ, gợi nhớ đến bài Mon rêve familier (Giấc mơ thân thuộc) của Verlaine, thậm chí bài Nắng mới của Lưu Trọng Lư «chập chờn sống lại những ngày không», dĩ nhiên là nội dung khác biệt.

Khách đường xa có thể là hồi âm câu đầu sao không về, qua một không gian đã trùng trùng xa cách.

Áo em trắng quá: trắng màu trinh nguyên, ngây thơ, vô nhiễm, linh hiện trong giấc mơ vô tội. Áo trắng đơn sơ mộng trắng trong… lung linh, huyền huyền ảo ảo, mờ sương mờ khói.

Sương khói ở đây là thời gian xa cách, che lấp và bôi nhòe, tan biến. Như ý một câu thơ cổ, trong Hoa Tiên: đã sương đã khói đã vài năm nay. Nhân ảnh là từ Hán việt duy nhất trong bài thơ, một từ uyên bác trong cõi nôm na, tạo thêm nét cổ kính, trang trọng cho một lời tâm sự đơn giản. Có lẽ tác giả đã mượn ở Cung oán ngâm khúc một hình ảnh vô cùng hợp tình hợp cảnh: Ai đem nhân ảnh nhuốm mùi tà dương. Trong bài thơ thôn Vỹ, chữ nhân ảnh có nghĩa là hình bóng người xưa, một chút nghĩa cũ đang mờ dần nhạt dần với thời gian. Nhưng hiểu rộng ra, trong kinh Phật, nó còn diễn tả kiếp sống mong manh, có có không không. Các cụ sẽ xem câu thơ đây là điềm dữ cho tác giả, một câu thơ «trệ», báo hiệu việc không may. Như cái chết sắp đến.

Hiểu như vậy là lìa xa văn bản, nhưng xích gần lại định mệnh thảm khốc của nhà thơ.

Vì chỉ khoảng một năm sau khi sáng tác Đây thôn Vỹ Giạ, Hàn Mạc Tử qua đời, đi vào Vườn trăng Vĩnh viễn.

Orleans, 21.2.2012
ĐẶNG TIẾN
(SH277/03-12)
Phụ chú:

Nhân đây cũng xin nhắc lại một thông tin, lối nhìn tùy tiện qua một bài báo, Đây thôn Vỹ Dạ một tiếng thở dài đáng quý trên báo Người Giáo Viên Nhân Dân, 1/1990, của một ông Lê Đình Mai nào đó. Theo bài báo, thôn Vỹ là một ổ điếm, và Hàn Mạc Tử đã có công «phản ánh kiếp sống giang hồ, tố cáo tệ đoan của xã hội cũ, trong một bài thơ hiện thực, nhân đạo, một tiếng thở dài đáng quý». Ôi thánh tai và thánh tai!


[1] - Nguyễn Bá Tín, Hàn Mặc Tử anh tôi, tr.94. Nxb Tin, 1990, Paris.
[2] - Trần Thanh Mại, Hàn Mạc Tử, 1941, Nxb Võ Doãn Mại, tái bản 1942, Sài Gòn.
[3] - Bửu Ý, Dạ Khúc, báo Văn, 1965, in lại trong Ngày tháng thênh thang, tr. 48, Nxb Văn Học, 2011.
[4] - Nguyễn Bá Tín, Hàn Mặc Tử trong riêng tư, phần 4, trên mạng lưới dunglac.org. Đã in, 1994, Hà Nội.
Theo ông, thì bà Kim Cúc, 1939, có gửi tặng HMT một tấm hình 6/9 mặc áo dài lụa trắng, đã gợi ý cho bài thơ. Theo nhiều nguồn tư liệu khác, thì bà chỉ gửi một bưu thiếp mua ở tiệm ảnh Tăng Vinh, cửa Thượng Tứ, Huế.
Ông Tín còn cho rằng cuộc tình duyên bất thành vì lý do tôn giáo. Rồi giải thích: «Gió theo lối gió mây đường mây. Lương giáo không hòa đồng, ân tình khó kết hợp. Thân thế anh như một đám bắp bến đò Cồn hướng về thôn Vỹ Dạ… Hai câu kết ý Hàn nói phải chăng vì đời sống trầm hương của chị Cúc «sương khói» đã che mờ đi bóng dáng con người nhân thế của anh» (internet). Lối giải thích này dĩ nhiên là thô thiển nhưng cũng cần biết đến.
 

Thứ Ba, 3 tháng 4, 2012

Nhâm Thìn nhìn Rồng ngẫm quần Long

Nhâm Thìn nhìn Rồng ngẫm quần Long

Sau nhà … Hồ, sân rồng thành ruộng lúa. Đất nước thất lạc độc lập, quyền bính bơ vơ, rồng rớt ao tù? Luận theo Kinh Dịch thì con Rồng Việt như đang gặp quẻ Thiên địa Bĩ hay Trạch thủy khốn?


Rồng mây cất mình bay lên từ chân núi Ba Vì (phía sau là sông Đà)

Biểu tượng Rồng có ảnh hưởng sâu sắc trên nhiều lĩnh vực trong đời sống và văn hóa phương Đông.
Từ thời Hồng bàng, người Việt tự coi mình là dòng con rồng cháu tiên. Dã sử lưu truyền rằng Kinh Dương Vương xuống thủy phủ cưới vợ là Long Nữ và sinh ra Lạc Long Quân.
Từ góc độ địa lý, phong thủy, yếu tố Rồng có thể xuất hiện sớm nhất với hình ảnh thần Long Đỗ khi Cao Biền tìm long mạch để xây thành Đại La. Sách Lĩnh Nam chích quái viết: “thần Long Đỗ là một dị nhân mặc quần áo sặc sỡ, trang sức kỳ vỹ, cưỡi con rồng đỏ, tay cầm giản vàng, lơ lửng trong mây khói, khí thế ngùn ngụt, bay lên lượn xuống hồi lâu mới tan”.
Trong mỹ thuật truyền thống, hình ảnh Rồng xuất hiện sớm nhất và còn lưu giữ được ở các di chỉ, di tích từ thời vua Đinh.
Nhân dịp đầu xuân Nhâm Thìn chẳng gì thú vị hơn khi mượn quẻ thuần càn mà suy ngẫm về những thăng trầm của thiết kế và đời sống. Hình của quẻ là lục long ngự thiên- sáu rồng bay trên trời. Tượng và khí chất của quẻ là quảng đại, bao dung, quyền biến như long vân.
Hoặc dược? tại uyên?

Cửu Long
Bao thế kỷ đã trôi qua, nhưng không phải lúc nào hình tượng Rồng cũng ở thế vượt lên hay ngự thiên. Đáng suy ngẫm nhất là mấy chục năm gần đây, riêng biểu tượng Rồng trong quy hoạch, thiết kế kiến trúc, design, deco… người ta chỉ thấy hiển hiện một bức tranh khá ảm đạm, chìm khuất.
Chẳng thể giấu diếm những con rồng Tô Lịch, Kim Ngưu, Đồng Nai, Sài Gòn, Thị Vải…đang từng ngày bị phân hủy. Tiếc thay, Đồ Sơn cắt núi, xẻ đồi, lấp biển để phá đi thế cửu long tranh châu. Làm sao có thể quên Long Trì trước chùa Thầy đang từng ngày biến dạng bởi chất thải. Ngổn ngang những đầu rồng phô lộ ở Suối Tiên, Sài Gòn hay Đại Nam, Bình Dương. Và khi sự hiểu biết về văn hóa và quá khứ lệch lạc đến độ … phi thường thì người ta mới cố diễn họa, diễn đạt mái của nhà ga Nội Bài là lấy cảm hứng từ những đình làng xưa với những đầu đao cong cong…
Vậy là rất nhiều công trình gắn với biểu tượng Rồng. Có thấy hình nhưng mất hồn, cạn vía, có copy, lặp lại mà hẫng đi phần tiếp nối, tái tạo, sáng tạo. Không gian Rồng được Thiên mà mất Thời. Có Địa mà hụt thiếu sự giao hòa. Con người ứ thừa ham muốn nhưng lòng Nhân lại vô cùng hẹp hòi, bấn loạn.
Luận theo Kinh Dịch thì con Rồng Việt như đang gặp quẻ Thiên địa Bĩ hay Trạch thủy khốn?
Phi long tại… thiên tử?


Long sàng đặt ở sân trước đền thờ vua Đinh – Ninh Bình

Rồng luôn được gắn với Vua, con trời. Gương mặt, thần thái của vua được gọi là Long Nhan. Nơi ở và làm việc gọi là Long Cung. Sân nhà, kiệu của vua là Long Đình. Xe của vua gọi là Long Xa, Long Giá. bàn viết của vua là Long án. Ghế của vua là Long kỹ. Thuyền của vua gọi là Long Châu. Gường vua ngủ là Long Sàng. Áo của vua gọi là Long Bào, Long Cổn…
Nhưng ngặt một nỗi chẳng phải tạo tác nào cho nơi cao sang, quyền quý cũng được trân trọng và trường tồn.
Trước cửa đền vua Đinh cơn cớ gì mà người đời lại đặt một chiếc long sàng bằng đá? Từ Tây An, Lạc Dương, Nam Kinh, Bắc Kinh, Seoul, Kyoto, Thăng Long, Tây Đô, Huế… không có nơi thờ tự nào lại ngự một long sàng ở sân trước. Tàng ẩn sau những điêu khắc long phượng quấn quýt, vân vi còn bao điều thị phi về những dâm loạn nơi hậu cung? Trơ gan cùng tuế nguyệt hay còn giấu đi bao chuyện đồng sàng dị mộng cùng cái chết bí ẩn của cha con vua Đinh mà lịch sử chưa thể giải mã? Long sàng đẫm máu hay ứa lệ tình? Trong khi đó, rất có thể ám ảnh ký ức muôn người lại là chiếc long sàng mà Dương Vân Nga và Lê Hoàn cùng nhau hân hoan, truy hoan bên sông Vân Sàng sau ngày nhà vua bình Tống trở về?

Còn đó thành nhà Hồ, nơi vừa được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới, vất vưởng vài mảnh rồng đá bị “trói” lại trong rào tre sơn đỏ trắng. Điện Hoàng Nguyên, cung Diên Thọ, Đông cung, Thái Miếu đã bị san phẳng, mất tiêu hay chìm nghỉm đâu đó nơi dòng sông Mã, chân núi Ngưu Ngọa, Hắc Khuyển, Thổ Tượng. Sân rồng đã thành ruộng lúa. Đất nước thất lạc độc lập, quyền bính bơ vơ, rồng rớt ao tù.

Một ngày đẹp trời được tận mắt chứng kiến những bảo vật thời Nguyễn như ấn quý, kiếm báu, áo xênh xang, mũ thượng triều cùng chậu vàng, bát ngọc… . Hình ảnh rồng lung linh, rực rỡ qua những chạm khắc, thêu dệt cầu kỳ, tinh tế. Nhưng khi bảo vật được long trọng trưng ra ở thủ đô lại chợt nhớ những đầu rồng trong lăng Gia Long ở cố đô vẫn bị chém chặt tàn hoang.
Chất liệu cũng như kỹ năng tạo tác trang trí rồng có thể tạo nên những tuyệt phẩm ấn ngọc Đại Nam Thụ Thiên Vĩnh Mệnh truyền quốc tỷ, ấn vàng Quốc gia tín bảo, Sắc mệnh chi bảo, An dân bảo kiếm… Nhưng chính trị thì luôn đoản mệnh. Hiện thực nghiệt ngã này chỉ tạo thêm cho vàng quý, ngọc hiếm một trạng thái lạnh lùng đến vô cảm của một hiện vật. Ký sinh vào đó một số kiếp điêu linh.
Khi Thiên tử và vương quyền không thể là một nét sổ dọc trong Hán tự hay gạch nối giữa trời- đất và con người thì chẳng có một biểu tượng nào có thể bền vững cùng thời gian hư ảo. Điều này càng phơi lộ rõ hơn khi chính sự biến động, sau sinh mệnh của bao kiếp người thì các di sản văn hóa cũng không có nhiều cơ hội dù rất mong manh để duy trì, tồn tại.

Hiện long tại… đình?



Mả táng hàm rồng- đình Chu Quyến
Cầu Nam, chùa Bắc, đình Đoài. Tôi rất muốn thậm xưng một chút khi sửa câu ca xưa thành Rồng Đoài.
Ấn tượng của điêu khắc rồng và mỹ thuật làng ẩn chứa trong những tạo tác mộc mạc, rung động thô phác. Bên cạnh những câu chuyện ái ân như trai gái tắm hồ sen, chải tóc, làm duyên và sờ tí con gái …là cảnh táng mả hàm rồng ở đình Chu Quyến, đầu rồng đuôi cá, trai gái ôm sen, cưỡi rồng ở Tây Đằng. Rồng mẹ dạy con học bài ở Đường Lâm…
Những điêu khắc rồng nấp dưới mái đình thâm u, neo vào chồng đấu, vì kèo, bám chắc vào ván nong, xà thượng, nghé kẻ, đầu dư, đầu bẩy… Những tác phẩm rất khéo trường tồn cùng với niềm tin dân gian.
Điêu khắc rồng ở đình làng không chỉ góp phần làm giảm sức nặng của mái và kiến trúc gỗ. Vượt qua giới hạn hình thức của chất liệu, kết cấu hay kiến trúc, mượn điêu khắc dân làng muốn mở ra một lối đi khác cho đời sống tinh thần, tín ngưỡng của chính mình. Đó là mỹ lộ dẫn con người thoát thực, tìm đến một cảnh giới khác của những ước mơ, khát vọng, của sự đổi thay.
Tuy nhiên mỹ thuật làng còn có khoảng cách nhất định so với chạm rồng ở bệ tượng Adida ở chùa Phật Tích, Bắc Ninh, chạm khắc rồng trên cửa đền Trần, chùa Phổ Minh Nam Định, rồng hóa trúc ở đền thờ vua Đinh ở Ninh Bình hay rồng hóa mây ở Hoàng thành Thăng Long….
Điêu khắc rồng ở đình làng ít chế tác trên chất liệu bền vững, quý hiếm như đá, ngọc, vàng, bạc. So với điêu khắc ở cung đình hay các trung tâm Phật giáo lớn thì có hụt đi một chút sự tinh khéo và cách tổ hợp, kết nối các câu chuyện, ước mơ hay biểu tượng trong một tổng thể thống nhất.
Thời gian, chiến tranh hay sự nghèo khó cũng khiến các phù điêu, điêu khắc rồng trên các đình cổ ở miền Bắc mau phai tàn, lạt màu, thất sắc. Những thất thoát, biến dạng ấy gây quá nhiều khó khăn cho việc tập hợp, tích tụ mỹ thuật làng thành một định dạng, thiết chế văn hóa. Cái bột phát, cảm tính vừa lệ thuộc và dung dưỡng cho sự tùy tiện, cẩu thả. Cái cá biệt chưa đẩy lên thành phong cách, trường phái.
Tiềm phục?


Từ những phân tích trên, đôi khi viết về đề tài này tôi thường bế tắc. Để tự giải thoát, tôi thường gấp sách, tắt máy lặng lẽ dời Thăng long để tìm về Hạ Long. Bỏ cái vội vã, tất bật, cương cường của đô thị đang quá suy đồi, hỗn loạn để trở về trầm mình trước mênh mông, hiền hòa và bí ẩn của biển cả.
Cảm nhận về Thăng Long thì cần rất nhiều hồi ức thực và hư, lựa chọn thật và giả, bóc tách cái tiểu tiết và đại thể, phân tích cái đúng, sai, quán tưởng và suy luận. Nhưng trước Hạ Long một kẻ tầm thường, ít học như tôi cũng có cơ may đốn ngộ được cái lẽ huyền diệu của càn khôn.
Rất nên bỏ qua những lời mời dừng nghỉ ở khách sạn, du thuyền ba, bốn, năm sao. Bám vào di sản, kinh doanh, kiếm lời từ Hạ Long nhưng nơi đây rất vắng một thứ triết lý kinh doanh quyền biến. Trong một môi trường làm ăn khá buồn tẻ, mấy ai tìm hiểu về những thăng trầm, nhọc nhằn trên những hải trình chinh phục biển của người Việt? Từ đó càng khó tìm thấy những luận giải sâu sắc về Rồng?
Sang thu, Hạ Long luân chuyển bốn mùa trong một ngày. Có thời điểm lạ lùng trước, trong và sau những cơn mưa muộn màng, bờ vịnh trở nên kỳ ảo nhất khi nó thỉnh thoảng hé lộ tinh thần và quyền lực của tạo hóa.
Điểm dừng tuyệt thú nhất phải là những chòi canh côi cút, mong manh, chơ vơ của ngư dân nghèo neo bám trên mặt vịnh. Gió ào ạt. Sóng ào ạt. Liếp thưa, sàn mỏng, cột èo uột, gỗ tre oải mục. Mọi định nghĩa về vật chất, vật thể, tiện nghi bị mờ nhòa đến bất cần, cùng cực. Bù lại, người ta có một cơ hội tĩnh tại, an nhiên nhất để thẩm nhận đại tượng tráng lệ của gió, mây, mưa, núi, đảo đá và mặt nước.
Kìa, Hạ Long đang rực lên khi cơn mưa xuất hiện xa xa. Sắc nắng óng hơn giống như nền trời mỗi khi xuất hiện cầu vồng. Hạ Long biếc xanh và lấp lánh khi mây đen dần choán mặt trời. Linh cảm này tựa như một lần chứng ngộ cảnh tượng mây rồng cất mình bay lên hùng tráng ở chân núi thiêng. Bỗng chốc Hạ Long nhòe mờ bàng bạc trước hiện tượng rồng phún thủy…
Tự vấn Hạ Long có vị thế nào trong trục Hạ Long – Thăng Long? Hạ Long nằm ở đâu trong suốt chiều dài biến ảo của Yên Tử, Yên Phụ, Tam Đảo. Hạ Long góp phần gì cho những chuyển vận kỳ lạ của thiếu tổ sơn Hoàng Liên Sơn và đại tổ sơn Hymalaya?
Hạ Long nằm ở đâu đó hay xê dịch giữa những xa- gần, thực- ảo, lớn- nhỏ, trước- sau, mờ – tỏ, cái hiện diện và khiếm diện, cả sự buông thả và điều có thể nắm bắt…
Bỗng chốc vẳng nghe biển đảo gọi về bao ký ức hiển long.

Bài này khi in ra trên báo Xuân Nhâm Thìn đã chẳng còn là của mềnh. Post lên nhân tháng Thìn.
http://xuanbinhfreelance.wordpress.com/2012/04/03/nham-thin-nhin-r%e1%bb%93ng-ng%e1%ba%abm-qu%e1%ba%a7n-long/#comment-2641

Thứ Bảy, 31 tháng 3, 2012

TIN VUI/MỪNG CỰC HOT !!!

Công ty TNHH Đại Đồng kinh doanh trong lĩnh vực Du lịch ( Lữ hành và Tổ chức Sự kiện) vừa trao đổi qua điện thoại với chủ nhân "BẢO TÀNG CHIẾN TRANH NGOÀI TRỜI VỰC QUÀNH" để thông báo một tin rất vui :

   Sau khi đọc các bài viết về "BẢO TÀNG CHIẾN TRANH NGOÀI TRỜI VỰC QUÀNH",   đăng trên các báo in, báo điện tử và blog, nhận thấy đây là một địa chỉ có giá trị - một sản phẩm đặc biệt - làm phong phú thêm chương trình tham quan, du lịch để  thu hút khách mua tour đến Quảng Bình vào thăm động Phong Nha, Thiên Đường, tắm biển Nhật Lệ của công ty trong "THÁNG DU LỊCH QUẢNG BÌNH NĂM 2012"   Ban Giám đốc Công ty  đã họp khẩn cấp để bàn về vấn đề này. Hội nghị kéo dài trong một ngày với nhiều ý kiến sôi nổi,  chân thành và bổ ích của các thành viên trong ban lãnh đạo công ty, sau khi nghe đồng chí giám đốc tổng kết cuộc họp và cho nhiều ý kiến chỉ đạo quý báu, hội nghị đã nhất trí cao (99% ) với đề xuất của đồng chí giám đốc : HỖ TRỢ KHÔNG HOÀN LẠI SỐ TIỀN 5 000 000 000 VND (NĂM TỶ ĐỒNG CHẴN)   cho bảo tàng ngay trong ngày hôm nay (01 THÁNG TƯ) để bảo tàng có tiền sửa chữa, nâng cấp kịp thời phục vụ "THÁNG DU LỊCH QUẢNG BÌNH NĂM 2012".

Ôi ! Sướng quá !

Phải khoe ngay để bà con mừng cho mình một phát.   

Thứ Năm, 29 tháng 3, 2012

LỊCH SỬ, ĐỊA LÝ LÀ MÔN HỌC PHỤ TRONG TRƯỜNG PHỔ THÔNG ?

ĐĂNG LẠI MỘT BÀI CŨ NHÂN CHUYỆN KHÔNG ĐƯỢC KHẮC DANH HIỆU ANH HÙNG LÊN BIA MỘ LIỆT SĨ TRẦN VĂN PHƯƠNG

TỔ QUỐC GHI CÔNG LIỆT SĨ  ĐOÀN CHUYÊN GIA QUÂN SỰ (TRUNG QUỐC) ĐIỀU TRA VỊNH BẮC BỘ ???

Sự kiện ngày Mười bốn tháng Ba năm 1988 được cộng đồng các Bloggers làm nóng lên trên các trang mạng liên tục trong nhiều ngày qua với cùng chung một nỗi niềm : ĐỜI ĐỜI TƯỞNG NHỚ NHỮNG ANH HÙNG LIỆT SĨ ĐÃ HY SINH VÌ SỰ  TOÀN VẸN CỦA TỔ QUỐC.

Trong các bài viết đó, có nhiều bài viết của các Bloggers  người Quảng Bình : Quê Choa, Cu Vinh, Cu Làng Cát, Người Ba Đồn,... (vì trình độ IT i-tờ nên xin cóp nguyên xi các đường dẫn) :






Các anh là đồng hương huyện Quảng Trạch với Anh hùng Liệt sĩ Trần Văn Phương, trong bài viết của Cu Làng Cát và Người Ba Đồn có nói về mộ phần, mộ chí của Anh hùng Liệt sĩ Trần Văn Phương trong NTLS xã Quảng Phúc  " Sao hiu quạnh thế..."


Mình chợt nhớ : Có lần đi lấy thông tin về mộ Liệt sĩ trong các NTLS Liệt sĩ ở Quảng Bình , mình đã gặp một "nghĩa trang liệt sĩ đặc biệt"  như các ảnh đã được chụp vào ngày 11/9/2005 dưới đây :









Cái nghĩa trang này nằm trên địa phận xã Quảng Thuận, huyện Quảng Trạch  (bên  trái QL 1A theo hướng Bắc-Nam). Không biết đến nay nó có thay đổi gì không ?

Mình là dân ngụ cư nên không biết gì hơn ngoài mấy tấm ảnh này, với một câu hỏi chưa được trả lời : Không biết những người nằm dưới mồ này, họ "hy sinh" vì nhiệm vụ gì trên lãnh thổ Việt Nam ?

Thứ Tư, 28 tháng 3, 2012

CHUYỆN NHÀ HÀNG XÓM


Bến Hải - đôi bờ di sản

Thứ Tư, 28.3.2012 | 08:18 (GMT + 7)

Sông Bến Hải từ thượng nguồn đổ ra biển Đông làm giàu có thêm cho hai “kho vàng” là bãi tắm Cửa Tùng - Cửa Việt của Quảng Trị (QT). Và cũng dòng sông này, cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại đã biến nơi đây thành mốc son lịch sử sáng ngời, để lại cho các thế hệ mai sau di sản của lòng yêu nước, khát vọng hoà bình mang tên Việt Nam.

Cầu Hiền Lương trước năm 1975 - ảnh internet
Đã sau 40 năm hoà bình, người dân đôi bờ sông Bến Hải - cầu Hiền Lương vẫn ngồn ngộn lo toan rằng những chứng tích, dấu tích được làm nên bởi rất nhiều máu, nước mắt và sự sống e rồi sẽ mất đi...
Cầu Hiền Lương trong ngày hội thống nhất non sông.     Ảnh: HỒ CẦU
Cầu Hiền Lương trong ngày hội thống nhất non sông. Ảnh: HỒ CẦU
Bây giờ đứng trên cây cầu di tích lịch sử quốc gia Hiền Lương nhìn về phía nào cũng thấy màu xanh của sự sống căng đầy xa ngút mắt. Biển Cửa Tùng và địa đạo Vịnh Mốc tấp nập du khách đến từ năm châu bốn bể, vùng đồng bằng Vĩnh Linh - Gio Linh hai bờ sông Tuyến như cách gọi của Nguyễn Tuân xanh điệp trùng của lúa, hồ tiêu khiến cho những cựu binh năm xưa không còn nhận ra nơi đây từng là đất chết trong chiến tranh nữa, nhìn lên phía tây, bạt ngàn caosu trải thành một thảm xanh bao la, lẫn trong đó những cột khói nhà máy bay lên, hoà cùng gió từ biển thổi vào, làm ngất ngây lòng người tri ân bên dòng sông giới tuyến.
Phạm Thị Thuỷ - nữ nhân viên của Ban quản lý (BQL) di tích đôi bờ Hiền Lương - nói: “Do vị trí của di tích nằm ngay bên quốc lộ 1A nên rất thuận lợi cho du khách thăm viếng, tìm hiểu, hằng ngày tụi em chứng kiến rất nhiều người đến thăm cầu Hiền Lương, dâng hương ở kỳ đài giới tuyến đã oà khóc nức nở, họ bảo chỉ cần đặt được bước chân lên cây cầu lịch sử là cả một niềm hạnh phúc vô cùng lớn rồi, huống hồ còn được nhìn thấy cả một sự đổi thay đầy sức sống trên “miền đất chết” của đồng bào đôi bờ Bến Hải như thế này.
Địa đạo Vịnh Mốc cũng vậy, vô cùng hấp dẫn du khách, ai đến đây rồi cũng nói Vịnh Mốc quả là một công trình kỳ vĩ trong lòng đất chứa đựng nhiều điều muốn tìm hiểu, khám phá. Nhưng, anh chị em quản lý di tích ở đây vẫn vô cùng lo lắng rằng còn quá nhiều di tích lịch sử độc đáo, chẳng nơi nào có được ở đôi bờ Bến Hải đang trước nguy cơ mai một, mất đi do chưa được quan tâm đầu tư bảo vệ, trùng tu kịp thời, xứng tầm. Em là người con được vinh dự sinh ra trên mảnh đất, dòng sông nổi tiếng này, nên em rất biết sự yêu quý của người dân quê em đối với từng dấu tích chiến tranh đã làm nên cuộc sống hoà bình hôm nay”.
“Tồn tại hay không tồn tại!”
Nằm ở phía nam sông Bến Hải là di tích quốc gia hàng rào điện tử McNamara đang hằng ngày đối mặt với sự mất đi bởi sự bào mòn của thời gian - mưa nắng của đất trời và mòn mỏi đợi chờ kinh phí trùng tu, tôn tạo. Hàng rào điện tử McNamara là hệ thống bao gồm 17 căn cứ quân sự, kết hợp với hệ thống vật cản là hàng rào dây thép gai, bãi mìn, các phương tiện điện tử phát hiện thâm nhập được quân đội Mỹ xây dựng ở vĩ tuyến 17 năm 1966, được bố trí trên chiều rộng từ 10 - 20km, dài 100km từ cảng Cửa Việt kéo dài lên đường mòn Hồ Chí Minh và tới tận biên giới Việt - Lào. Được xếp hạng di tích quốc gia từ sau ngày đất nước thống nhất, nhưng mãi tới nay, việc đầu tư cho các hoạt động bảo vệ, trùng tu, tôn tạo hầu như rất nhỏ giọt, không đáng kể.
Ông Ngô Thanh Bảo - Giám đốc Trung tâm Bảo tồn di tích - danh thắng tỉnh QT - cố kìm nén nỗi bức xúc: “Dự án bảo vệ, phục hồi di tích hàng rào điện tử McNamara luôn được xếp hạng là tối cần thiết, cấp bách, nhưng hết năm này sang năm khác, cả chục năm rồi, đến khi đã được chấp nhận cho khởi động thì lại trúng vào thời điểm khủng hoảng, siết chặt đầu tư, vậy là kéo dài cho đến bây giờ. Điều chúng tôi vô cùng lo lắng và phải khẩn thiết báo động là nếu không kịp thời khởi động dự án thì những gì còn sót lại đến hôm nay rồi cũng sẽ mất nốt. Hôm vừa rồi, Sở Kế hoạch - Đầu tư tỉnh cho rằng dự án hàng rào điện tử McNamara cũng phải xếp vào danh sách ngừng đầu tư mới, tôi nói rằng, nếu hiểu như vậy là... không hiểu gì về di tích cả, đầu tư khẩn cấp để bảo vệ, khôi phục một di sản quý giá sao lại xếp ngang hàng với các công trình dân sinh xây dựng mới”.
Di tích đồ sộ nhất ở bờ bắc sông Bến Hải là hệ thống làng hầm, mà trong đó địa đạo Vịnh Mốc là... đồ sộ của đồ sộ. Toàn huyện Vĩnh Linh có 114 làng hầm với tổng chiều dài trên 40km cùng với hệ thống giao thông hào dài 2.000km, đó thực sự là những làng ngầm đưa sự sống lặn sâu xuống lòng đất thời chiến tranh, có nơi âm hơn 20m, có đầy đủ chức năng như căn hộ, hội trường, bệnh xá, nhà trẻ, trường học, trụ sở chính quyền...
TS sử học Nguyễn Bình nói rằng, hệ thống làng hầm Vĩnh Linh hoàn toàn xứng đáng để được Tổ chức Giáo dục - Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc xem xét, vinh danh. Thế nhưng, thực trạng của hệ thống di sản làng hầm Vĩnh Linh đã, đang nhận được sự ứng xử chưa tương xứng, ngoài địa đạo Vịnh Mốc được đầu tư “chừng mực” để bảo vệ, chống xuống cấp, số phận hàng trăm địa đạo khác gần như bị bỏ rơi hoàn toàn trong cả một thời gian dài, trong bối cảnh phải ưu tiên đất đai cho canh tác, trồng trọt kiếm cái ăn trước đã. Chưa kể hàng trăm địa đạo lớn - nhỏ khác, chỉ riêng địa đạo Vịnh Mốc cũng đang đứng trước nhiều thách thức bởi các giải pháp gia cường kè bảo vệ, gia cố chống sập... cho địa đạo đang ngày càng đòi hỏi cao hơn trước nhiều áp lực của thiên nhiên.
Trong ngôi nhà trưng bày (sắp xây) tại khu di tích làng hầm Vĩnh Linh treo dòng chữ cỡ lớn khắc bằng đá hoa cương “Tồn tại hay không tồn tại”, với dụng ý đó là phương châm sống của người dân Vĩnh Linh thời chiến tranh. Khi trở lại cầu Hiền Lương, tôi nói với nữ nhân viên bảo vệ di tích tên là Thuỷ rằng, vấn đề của vấn đề di tích mà em quan tâm phụ thuộc vào nhận thức của những người ra quyết định - tồn tại hay không tồn tại?
Tầm nhìn di sản từ... môn Vĩnh Hoàng
Tôi nói với ông Hoàng Anh Quyết - Giám đốc Trung tâm Xúc tiến đầu tư du lịch tỉnh QT - là BQL di tích - danh thắng tỉnh hai tháng cuối năm 2011 thiếu lương nhân viên do hụt nguồn thu, rồi thì tại địa đạo Vịnh Mốc ngoài việc bán vé ra, các hoạt động để tạo giá trị gia tăng từ di tích nổi tiếng này gần như bằng không... Không đợi tôi hết “cáo trạng”, ông Quyết đã “cướp diễn đàn”: “Đó là hệ lụy tất yếu của việc không biến nổi di tích thành địa chỉ du lịch do nhiều nguyên nhân, trong đó có tính cát cứ, năng lực tổ chức, hành động, sự phối hợp đồng bộ giữa các ngành, giữa chính quyền với ngành du lịch... Tôi đặc biệt nhấn mạnh, về cơ cấu tổ chức, không còn địa phương nào trong khu vực di sản miền Trung mà quản lý cả một hệ thống di sản đồ sộ như thế này chỉ giao cho một BQL trực thuộc Sở VHTTDL như ở QT; các địa phương khác đều là một BQL trực thuộc UBND tỉnh, chỉ khi có chiếc áo đúng tầm thì di tích, di sản mới được ứng xử, phát huy giá trị đúng tầm của nó”.
Ô hay, nghe ông Quyết nói chuyện chiếc áo và tầm nhìn “khác người” sao giống chị bán hàng phục vụ khách du lịch ở di tích Vịnh Mốc quá! Chị Trần Thị Phới - người làng Vịnh Mốc, có quầy bán hàng trong khuôn viên địa đạo Vịnh Mốc - khoe với tôi mấy rổ môn củ, mấy thúng dứa biển Cồn Cỏ và những gói hồ tiêu hạt khô do chị tự mua bao nylon về đóng gói, không nhãn hiệu chi hết - đã nuôi sống gia đình và con cái chị học hành.
Chị nói: “Củ môn trồng trên đất Vĩnh Linh ngon chi lạ, những nơi khác không có, vì rứa mới sinh ra chuyện trạng Vĩnh Hoàng được chớ. Có người tới đây thấy em bán hàng nông sản quê mùa như ri cứ cười cợt ra vẻ... khó hiểu lắm, em thì nghĩ khác, không cứ phải hàng lưu niệm cao cấp sản xuất từ máy móc cao siêu này nọ mới là sang trọng, mới là làm du lịch, em rất tự hào khi dân làng Vịnh Mốc bán được cho khách tây, ta những sản vật dân dã được làm ra từ chính đất đai này. Em vừa bán môn vừa kể cho khách nghe chuyện trạng Vĩnh Hoàng rằng môn, khoai Vĩnh Linh ăn phải đeo kiếng, không thì bột môn văng mù mắt... Rứa là khách mua một trả tiền thành hai, nói là “boa” cho em “kể chiện có diên”...”. 
Câu hỏi tại sao “chiếc áo” quản lý di tích của tỉnh QT lại “khác người” như vậy được tôi đặt ra với ông Nguyễn Văn Hùng - Uỷ viên Thường vụ, Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ QT. Ông Hùng thẳng thắn: “Việc xếp BQL di tích tỉnh thành một phòng, ban của một sở không chỉ là sự bất thường về mặt hành chính, nó chính là sự phản ánh tầm nhìn và thái độ ứng xử với di tích, di sản. Tôi cho rằng, để nâng tầm trách nhiệm và hiệu quả quản lý, hoạt động bảo tồn, khai thác giá trị di tích phục vụ kinh tế - xã hội địa phương, cần thiết phải giao cho một đơn vị quản lý trực thuộc UBND tỉnh”.
Lâm Chí Công

Thứ Hai, 26 tháng 3, 2012

BẠN ĐỒNG HÀNH 2...?

Bao giờ suối Bang...vui trở lại?

Cập nhật lúc 06:36, Thứ Sáu, 16/03/2012 (GMT+7)
 
(QBĐT) - Trong chiến tranh, dù trên bom dưới đạn nhưng nơi đây, suối nước khoáng Bang (Kim Thuỷ- Lệ Thuỷ) vẫn nhộn nhịp cán bộ chiến sỹ ra Bắc vào Nam ghé lại để thưởng ngoạn những điều kỳ diệu của tạo hoá và cả chữa bệnh. Binh đoàn 559 còn xây cả một bể tắm nước nóng. Và, sau chiến tranh, nơi đây là một địa chỉ cuốn hút du khách... Nhưng kể từ khi Công ty TNHH Tập đoàn Đông Dương trương cờ biểu ngữ để làm ăn lớn thì du khách "nín hẳn".
Một chiều xuân, trời còn rét, mưa bụi lất phất nhưng không gian đất trời đã sáng sủa hơn, chúng tôi tìm về một địa chỉ quen thuộc: suối nước khoáng Bang. Rừng miền tây Lệ Thuỷ vẫn trầm mặc, và bên con suối Bang với dòng nước nóng trên 105 độ C mà đất trời đã ưu ái cho vùng đất này, những làn hơi nước màu sương mai bảng lảng vương vấn vươn lên tầng không như ngàn đời... Chỉ có điều, cái gọi là Khu du lịch sinh thái... đã không như chúng tôi hình dung khi rời Đồng Hới. Một cái cổng chào với hàng chữ đã rơi rụng và hoen màu gỉ rét như một lời chào buồn bã. Tôi xăm xăm tiến vào ngôi nhà mà dạo năm trước người đại diện của chủ đầu tư đã tiếp đoàn công tác của UBND tỉnh, nhưng vấp phải những thứ vật liệu hổ lốn, hoang phế... Còn bên kia, những toà nhà uy nghi nhưng mới xây được bộ khung như bộ xương con khủng long khổng lồ đang hù dọa mọi người. Tịnh không một bóng người, cũng may chúng tôi đi mấy anh em nên cũng đỡ... sợ. Những cây cảnh khá bề thế không được chăm sóc trông thật thảm hại và cả những dòng chữ ghi dấu tích các đồng chí lãnh đạo cao cấp không còn rõ nghĩa mà tôi không tiện chép ra đây, thật phản cảm...



<>
Nơi tắm nước nóng được xây dựng từ thời đánh Mỹ. Ảnh: V.P
Lần theo vết cũ về khe nước nơi người ta vẫn tắm trong mùa đông, tôi chạnh lòng nhìn tấm biển bề thế vững chãi với dòng chữ đã nhuốm màu thời gian: Nơi đây trong kháng chiến chống Mỹ bộ đội Trường Sơn đã dùng nước khoáng Bang để điều dưỡng, chữa bệnh... Rồi chúng tôi cũng bắt gặp được với các cô gái đi làm về qua đây tắm rửa tý chút, lát nữa về nhà đỡ phải đun nước chứ chẳng phải du khách gì. Các cô cho biết ở đây độ này vắng hẳn khách, không như hồi trước. Chúng tôi thầm nghĩ, chắc du khách đang chờ đến lúc khu du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng hoàn tất đi chơi luôn thể... Nhưng đến khi nào khu du lịch này mới hiện hình để phục vụ du khách khi nó như bộ xương khủng long rêu phong đã bắt đầu bầu bạn?
Nhớ lại ngày... vui, tháng 9 năm 2008, khi khởi công công trình với sự có mặt đủ bàn dân thiên hạ, núi rừng như đang chuyển động trong những lời hứa, viễn cảnh huy hoàng mà chủ đầu tư... vẽ ra. Khu du lịch nghỉ dưỡng và phục hồi chức năng suối nước khoáng Bang được chia làm hai giai đoạn, giai đoạn 1 với chức năng du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng kết hợp điều trị và du lịch mạo hiểm; sau năm 2015 sẽ thực hiện giai đoạn 2...Tổng diện tích đất được quy hoạch cho dự án giai đoạn 1 hơn 300 ha, thời gian thực hiện giai đoạn 1 là 24 tháng kể từ ngày khởi công...

Những toà nhà xây dang dở. Ảnh: V.P
Hai năm trôi qua, một ngày tháng 6-2010, đoàn công tác của UBND tỉnh khi đã khá "nóng ruột" với khu du lịch nghỉ dưỡng này đã "quá bộ" lên đây. Lúc này, dù tiến độ xây dựng khu du lịch đã quá chậm chạp, nhưng dầu sao trong tiếng ồn ả của xe máy và lực lượng lao động kha khá trên hiện trường cũng phần nào làm yên lòng những người có trách nhiệm với du lịch tỉnh nhà, hy vọng về một ngày khu du lịch sẽ hình thành. Lúc đó người đại diện cho chủ đầu tư đã nói chắc như đinh đóng cột, một năm nữa dự án sẽ hoàn thành giai đoạn 1... Vâng, một năm nữa nơi đây sẽ đón hàng ngàn du khách lưu trú và vãng lai với đầy đủ tiện nghi để nghỉ dưỡng, chữa bệnh, để ngắm cảnh non xanh, suối biếc... Nhưng rồi một năm đó đã đi qua. Từ năm trước những đội quân xây dựng khu du lịch đã bỏ đi vì chẳng ai rót vốn cho...
Tìm mãi chúng tôi cũng bắt gặp một người có chút trách nhiệm ở đây, là anh bảo vệ cho chủ thầu người địa phương, anh cho biết nghe đâu tháng 4 này sẽ có vốn, khi đó các đơn vị thi công lại tiếp tục công việc... Nghe thì biết vậy, tin hay không đây? Chỉ biết rằng, suối nước khoáng Bang là một mắt xích trong cái thế chân vạc du lịch ở Lệ Thuỷ. Từ Đồng Hới du khách vào thăm nhà lưu niệm Đại tướng Võ Nguyên Giáp- vị tướng lừng danh thế giới, người con ưu tú của quê hương Quảng Bình ở Lộc Thuỷ rồi lên viếng Lăng mộ Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh, khai quốc công thần đã mở cõi phương Nam, ở Thác Cóc, Trường Thuỷ và đi tiếp lên suối nước khoáng Bang trong chuyến du lịch phía nam tỉnh...
Đáng tiếc là, mấy năm qua điểm du lịch hấp dẫn, có một không hai này đang phải "ngủ yên" trong liều thuốc ngủ bất đắc dĩ!
                                                                          Văn Hoàng
http://baoquangbinh.vn/phong-su-ky-su/201203/Bao-gio-suoi-Bangvui-tro-lai-2098328/