Thứ Hai, 16 tháng 1, 2012
CHUYỆN THƯỜNG NGÀY Ở HUYỆN...
BÁO ANHP CỦA AI ?
Vụ Đoàn Văn Vươn: Đồng nghiệp ở báo ANHP đừng lấy chữ đánh dân
Mình đọc bài Báo ANHP:Đông đảo người dân bất bình với hành vi vi phạm của Đoàn Văn Vươn thấy hồ đồ cỡm kệt. Tìm hoài cũng chỉ mấy nhún người gọi là bất bình theo lưỡi không xương của tay VH. Với mình, bài báo không đáng đọc, nhưng trong sự thể như thế này cũng cần phải nói mấy điều.
![]() |
| Đừng lấy chữ đánh dân |
Mình đọc cả bài tìm đỏ mắt chỉ được 4 người nói, trong đó vẫn thấy rõ họ cám cảnh với anh Vươn nhiều hơn là “bất bình”. Họ tiếc cho một con người, một cuộc đời. Đọc vào thấy thế, chứ không có gì là “bất bình” như sự hồ đồ lòi ra dã tâm tàn nhẫn của VH và tòa báo này muốn khép tội.
Riêng việc chống người thi hành công vụ, chắc chắn phải xử lý, không cần đến những người dân thấp cỏ bé họng như ông Thứ, ông Thủy, ông Viên, ông Quy nói.
Một mình báo ANHP nói đông đảo người dân bất bình mà chỉ có 4 người lên tiếng, về mặt nghiệp vụ, không thể cho đăng một bài báo bất quất, bất qua như thế này được. Đã không làm thì thôi, đã làm thì phải thổi bùng lên cái bất bình cho thiên hạ họ coi. Vừa làm vừa sợ, cái sợ này không phải là sợ gì, mà sợ dân người ta họ chửi các đồng nghiệp hớt hoác, đôi khi bịa cả lời của dân cũng nên?.
Nếu những nhà báo khác gặp lại những người dân này, tôi chắc rằng họ sẽ nói khác. Bởi một lẽ, họ biết anh Vươn là như thế nào. Họ biết những nhà báo chính trực là thế nào và những đồng nghiệp bợ đỡ là như thế nào.
Với anh Vươn đã có tướng Lê Đức Anh lên tiếng, tướng Thước lên tiếng, giáo sư Võ lên tiếng, giáo sư Nguyễn Quang A…. lên tiếng, hàng chục nhà báo của nhiều tờ báo chính trực vì sự thật cũng lên tiếng thì tiếng nói của ANHP qua bài báo này chỉ là sự dốt nát về sự thật, vô cảm trước mất mát của người dân. Họ đã thẳng tay trù dập người dân bằng chữ; một cách làm vô luân.
Đừng làm thế, hồ sơ trong lòng nhân dân ghi rõ cả. Bia miệng lan truyền mãi trong dân gian Tiên Lãng, Hải Phòng. Những thằng nhà báo như thế sẽ được các nhà văn mô tả như những tên bồi bút vô lại, và nếu một ngày nào đó lên phim, sẽ được mô tả bằng hành vi khúm núm trông hèn lắm.
Chỉ có 4 người nói mà cũng bịa ra một sự đông đảo bất mình là không minh bạch với chính mình. Không nên lấy tinh thần AQ ra để đi làm báo nhằm hại người dân lương thiện.
Nếu còn liêm sĩ, VH nên đến xin lỗi người nhà anh Vươn.
Cu Làng Cát
VỤ CƯỠNG CHẾ ...ĐOÀN VĂN VƯƠN
Vài câu hỏi về vụ Đoàn Văn Vươn
NQA
Nguồn: TTXVH
Tháng Một 16, 2012 Tháng Một 16, 2012
tags: Nguyễn Quang A , Tiên Lãng , Vài câu hỏi , Đoàn Văn Vườn , Đất đai tags: Nguyễn Quang A , Tiên Lãng , Vài câu hỏi , Đoàn Văn Vươn , đất đai
i
Rate This
Đây là bản đã is compiled file and edit edit đăng of a tờ Tạp chí, có trang network, but rồi không rõ vì sao không đăng nữa và lịch sự gửi lời xin lỗi đến tác giả. Đây là bản đã được biên tập và sửa soạn đăng của một tờ tạp chí, có trang mạng, nhưng rồi không rõ vì sao không đăng nữa và lịch sự gửi lời xin lỗi đến tác giả. Sắp Tết rồi, Chắc là ai cũng muốn có the ngày quần từ vui về bên người thân, lang báo cũng vậy, không muốn như max gia đình Ông Vườn. Sắp Tết rồi, chắc là ai cũng muốn có những ngày quần tụ vui vẻ bên người thân, làng báo cũng vậy, không muốn như đại gia đình ông Vươn.
Nguyễn Quang A Nguyễn Quang A
Năm 2012 mở đầu by one vụ Cường chế thu hồi Đất tai họa. Năm 2012 mở đầu bằng một vụ cưỡng chế thu hồi đất tai họa. Tại Công Rock, xã Vinh Quang, Huyện Tiên Lãng, Hải Phòng, Bon công và hai bộ team tham gia thi hành Cường chế thu hồi Đất ngày 2012/05/01 đã bị Min tự tạo và súng săn of the người bị thu hồi Đất làm trong thương. Tại cống Rộc, xã Vinh Quang, huyện Tiên Lãng, Hải Phòng, bốn công an và hai bộ đội tham gia thi hành cưỡng chế thu hồi đất ngày 5-1-2012 đã bị mìn tự tạo và súng săn của những người bị thu hồi đất làm trọng thương. Ngày 2012/07/01 Cơ quan cảnh sat điều tra Hải Phòng đã start tố vụ án "kill người và chống người thi hành công vụ". Ngày 7-1-2012 Cơ quan cảnh sát điều tra Hải Phòng đã khởi tố vụ án “giết người và chống người thi hành công vụ”.
This is a vụ hết sức Fatal, sẽ đi vào lịch sử tư pháp Việt Nam and sure chan will give nhiều tranh cai và tác động sau sắc đến luat Đất đai about tới. Đây là một vụ hết sức nghiêm trọng, sẽ đi vào lịch sử tư pháp Việt Nam và chắc chắn sẽ gây nhiều tranh cãi và tác động sâu sắc đến luật đất đai sắp tới.
Bài này chỉ nếu ra more than one question based the information làm báo chí cung cấp để góp phần vào Cuộc tranh luận đó nhầm avoid the sự cố đáng Sorry như vụ Cường chế thu hồi Đất này. Bài này chỉ nêu ra vài câu hỏi dựa trên những thông tin do báo chí cung cấp để góp phần vào cuộc tranh luận đó nhằm tránh những sự cố đáng tiếc như vụ cưỡng chế thu hồi đất này.
Trước khi ra if the câu hỏi đó, cần summary các sự kiện do báo chí pass cho đến 13-1-2012. Trước khi nêu ra các câu hỏi đó, cần tóm tắt các sự kiện do báo chí đưa cho đến 13-1-2012.
Theo đó, anh Đoàn Văn Vườn, an người lính, an ống sư Nông lâm, khi ra quan năm 1986, đã become về local lần Biên, trong cây, đạp đê to create thành hồ nuoi trong thuỷ sản. Theo đó, anh Đoàn Văn Vươn, một người lính, một kỹ sư nông lâm, khi ra quân năm 1986, đã trở về địa phương lấn biển, trồng cây, đắp đê để tạo thành hồ nuôi trồng thuỷ sản. Nhiều năm trời, Đoàn Văn Vườn cùng anh em them hàng đã vật lớn with bien, bão tố và quần quat lao động pass hơn 20,000 m3 Đất, đá về to Lan, cải tạo biến thành Đầm Nuôi tôm. Nhiều năm trời, Đoàn Văn Vươn cùng anh em họ hàng đã vật lộn với biển, bão tố và quần quật lao động đưa hơn 20.000 m3 đất, đá về để lấn, cải tạo biển thành đầm nuôi tôm. Anh đã mất Đứa con gái yêu 8 tuổi chính tại nơi đây. Anh đã mất đứa con gái yêu 8 tuổi chính tại nơi đây.
Trong cuoc hop báo ngày 2012/12/01 của Uy Ban Nhân Dân thành phố Hải Phòng, Ông Lê Văn Hiền chủ tich UBND Huyện Tiên Lãng cho biết : năm 1993, Huyện chỉ giao 21 ha Đất bài bởi ven bien cho ÔNG Vườn, sau đó Ông Vườn Lan ra bien thêm 19,3 ha phía ngoài, rồi đề nghi hợp thức hóa, be Huyện ra quyết định giao Đất Plug-in. Trong cuộc họp báo ngày 12-1-2012 của Ủy Ban Nhân Dân thành phố Hải Phòng, ông Lê Văn Hiền chủ tịch UBND huyện Tiên Lãng cho biết : năm 1993, huyện chỉ giao 21 ha đất bãi bồi ven biển cho ông Vươn, sau đó ông Vươn lấn ra biển thêm 19,3 ha phía ngoài, rồi đề nghị hợp thức hóa, được huyện ra quyết định giao đất bổ sung.
Như thế tổng cộng Huyện đã giao cho anh Vườn 40,3 ha Như thế tổng cộng huyện đã giao cho anh Vươn 40,3 ha.
Theo Ông Bùi Quang Sản, Giám đốc Sở TN & MT TP Hải Phòng, Huyện Tiên Lãng giao 21ha Đất bài bởi cho ÔNG Vườn vào ngày 1993/04/10 trước khi Luật Đất đai 1993 có hiệu lực (15-10-1993) và theo Ông là Căn cứ vào Luật Đất đai năm 1987. Theo ông Bùi Quang Sản, Giám đốc Sở TN&MT TP Hải Phòng, huyện Tiên Lãng giao 21ha đất bãi bồi cho ông Vươn vào ngày 4-10-1993 trước khi Luật Đất đai 1993 có hiệu lực (15-10-1993) và theo ông là căn cứ vào Luật Đất đai năm 1987. Còn Khu Đầm 19,3 ha Cửa Ông Vườn be UBND Huyện Tiên Lãng ra quyết định giao Đất vào năm 1997. Còn khu đầm 19,3 ha của ông Vươn được UBND huyện Tiên Lãng ra quyết định giao đất vào năm 1997.
Theo Người Lao Động , hết timeout, UBND Huyện ra quyết định thu hồi Khu Đầm này. Theo Người Lao Động , hết thời hạn, UBND huyện ra quyết định thu hồi khu đầm này. Sau đó, the hộ dân đã start kiện ra TAND Huyện Tiên Lãng yêu cầu destroy determine thu hồi điện tích đậm trên. Sau đó, các hộ dân đã khởi kiện ra TAND huyện Tiên Lãng yêu cầu hủy quyết định thu hồi diện tích đầm trên. Tháng 11-2009, TAND Huyện mở phiên sơ tham, bác đơn kiện start of the hộ dân. Tháng 11-2009, TAND huyện mở phiên sơ thẩm, bác đơn khởi kiện của các hộ dân.
The hộ dân này đã khang cáo lên TAND TP Hải Phòng. Các hộ dân này đã kháng cáo lên TAND TP Hải Phòng. Trong quá trình Thụ lý vụ án, ngày 2010/09/04, verification phần Ngô Văn Anh đã set "biên bản tạo điều kiện cho the Đường sự tự thỏa thuận với nhau về the resolve vụ án" có closing mark của TAND TP Hải Phòng. Trong quá trình thụ lý vụ án, ngày 9-4-2010, thẩm phán Ngô Văn Anh đã lập “biên bản tạo điều kiện cho các đương sự tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án” có đóng dấu của TAND TP Hải Phòng. Theo biên bản này, Ông Đoàn Văn Vườn will Rút đơn kiện, còn UBND Huyện Tiên Lãng đồng ý cho ÔNG Vườn and the hộ dân tiếp tục thuê lại Đầm. Theo biên bản này, ông Đoàn Văn Vươn sẽ rút đơn kiện, còn UBND huyện Tiên Lãng đồng ý cho ông Vươn và các hộ dân tiếp tục thuê lại đầm. Tuy nhiên, vừa qua, UBND ra quyết định thu hồi Đất của Ông Vườn and tổ chức Cường chế vào ngày 5-1. " Tuy nhiên, vừa qua, UBND ra quyết định thu hồi đất của ông Vươn và tổ chức cưỡng chế vào ngày 5-1 .”
Ông chủ tich Huyện Tiên Lãng Thừa nhận "ngôi nhà bị phá nhựa in phần điện tích Đầm no bị Cường chế but là nơi chủ Đầm tấn công lực lượng Cường mechanism". Ông chủ tịch huyện Tiên Lãng thừa nhận “ ngôi nhà bị phá sập nằm trong phần diện tích đầm chưa bị cưỡng chế nhưng là nơi chủ đầm tấn công lực lượng cưỡng chế ”. Nói cách khác of lực lượng Cường chế đã tiến vào Khu Vực không bị Cường chế, and the it phút, lệnh cấm súng đã xay ra trên phần set it, chứ hoàn toàn không phải trên phần Đất của anh Vườn mà chính quyền muốn Cường mechanism . Nói cách khác các lực lượng cưỡng chế đã tiến vào khu vực không bị cưỡng chế, và việc nổ mìn, bắn súng đã xảy ra trên phần đất đó, chứ hoàn toàn không phải trên phần đất của anh Vươn mà chính quyền muốn cưỡng chế.
Vấn đề mẫu chốt ở đây là phải Rạch rồi center Đất công (do nhà Nước hay an cộng đồng sở hữu) và Đất tư (do the cá nhân hay các tổ chức của họ sở hữu). Vấn đề mấu chốt ở đây là phải rạch ròi giữa đất công (do nhà nước hay một cộng đồng sở hữu) và đất tư (do các cá nhân hay các tổ chức của họ sở hữu).
Theo luat free nhiên, Đất hoang be ai khai phá là Đất của người ấy. Theo luật tự nhiên, đất hoang được ai khai phá là đất của người ấy. Người dân có thể sở hữu Đất bằng cách khai khan Đất vô chủ, mua hay nhận convert nhượng Đất đã có chủ (from the chủ trước mà có thể nhà Nước, cộng đồng hay các cá nhân khác). Người dân có thể sở hữu đất bằng cách khai khẩn đất vô chủ, mua hay nhận chuyển nhượng đất đã có chủ (từ các chủ trước mà có thể nhà nước, cộng đồng hay các cá nhân khác). Theo luat free nhiên, đậm làm người dân lần bien to nuoi trong thủy sản ở xã Vinh Quang, Tiên Lãng phải thuộc sở hữu của họ. Theo luật tự nhiên, đầm do người dân lấn biển để nuôi trồng thủy sản ở xã Vinh Quang, Tiên Lãng phải thuộc sở hữu của họ.
Nói như thế không có nghĩa là the cá nhân có thể Xâm phạm Đất đã có chủ (even là của nhà Nước hay of the chủ khác), khi họ khai khan set cho là Đất hoang (nếu không có chủ sở hữu nào khác Certificate minh Đất đó thuộc sở hữu của mình), nhà Nước phải Thừa nhận Đất hoang be họ khai khan là Đất của họ. Nói như thế không có nghĩa là các cá nhân có thể xâm phạm đất đã có chủ (dù là của nhà nước hay của các chủ khác); khi họ khai khẩn đất được cho là đất hoang (nếu không có chủ sở hữu nào khác chứng minh đất đó thuộc sở hữu của mình) thì nhà nước phải thừa nhận đất hoang được họ khai khẩn là đất của họ. Đất làm nhà Nước owner can also phải có hồ sơ quyền sở hữu như của cá nhân và cộng đồng, example of Đất phủ chủ tích cũng phải có hồ sơ (window đỏ) giao cho an cơ quan Đại điện chủ sở hữu nhà Nước nhất định (Văn room chủ tích Nước chang limit) and must be lưu trữ trong hồ sơ của cơ quan Quản lý Đất đai same as Đất thuộc sở hữu khác. Đất do nhà nước sở hữu cũng phải có hồ sơ quyền sở hữu như của cá nhân và cộng đồng, thí dụ đất của phủ chủ tịch cũng phải có hồ sơ (sổ đỏ) giao cho một cơ quan đại diện chủ sở hữu nhà nước nhất định (Văn phòng chủ tịch nước chẳng hạn) và phải được lưu trữ trong hồ sơ của cơ quan quản lý đất đai giống như đất thuộc sở hữu khác.
Đăng Sorry từ the Year 1980 to nay nhà Nước Việt Nam quy định "Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà Nước system nhất manager lý" backward với Luật tự nhiên mà luat solution of most hết of Nước (kế cả Việt Nam trước kia ) are accept (tức là Thừa nhận sở hữu tư nhân về Đất và có sự phân định Rạch rồi center Đất công and Đất tư). Đáng tiếc từ các năm 1980 đến nay nhà nước Việt Nam quy định “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý” ngược với luật tự nhiên mà luật pháp của hầu hết các nước (kể cả Việt Nam trước kia) đều chấp nhận (tức là thừa nhận sở hữu tư nhân về đất và có sự phân định rạch ròi giữa đất công và đất tư). Đấy là point màu chốt (bên canh the noi width limit fill để khuyến khích tích từ ruong Đất) mà luat Đất đai (modify hay mới) phải should pass vào. Đấy là điểm mấu chốt (bên cạnh việc nới rộng hạn điền để khuyến khích tích tụ ruộng đất) mà luật đất đai (sửa đổi hay mới) phải nên đưa vào.
Dưới đây, they are the ta bám theo luat Đất đai hiện hành, bất accept sự thiếu Sot Fatal nếu trên mà luat Đất đai mới phải modify, to more than one nếu ra câu hỏi. Dưới đây, chúng ta bám theo các luật đất đai hiện hành, bất chấp sự thiếu sót nghiêm trọng nêu trên mà luật đất đai mới phải sửa đổi, để nêu ra vài câu hỏi.
- Ranh ranh chủ tích Huyện Tiên Lãng đã vi phạm các luat Đất đai hiện hành: Huyền Không allowed interface tích Đất lớn như vậy theo bất cứ luat Đất đai hiện hành nào. Rành rành chủ tịch huyện Tiên Lãng đã vi phạm các luật đất đai hiện hành: huyện không được phép giao diện tích đất lớn như vậy theo bất cứ luật đất đai hiện hành nào. Set in the Luật nếu Limit mức đó quá nhỏ không phụ hợp với và có thể become sự development of sản xuất và hiện max hóa. Hạn mức đất nêu trong các luật đó quá nhỏ không phù hợp với và cản trở sự phát triển của sản xuất và hiện đại hóa. Luật đã lạc hậu và tất cả of cơ quan nhà Nước are đã Ngam allowed beyond rao về limit mức. Luật đã lạc hậu và tất cả các cơ quan nhà nước đều đã ngầm cho phép vượt rào về hạn mức. And sự vi phạm này of the cơ quan nhà Nước lại đáng hoan Nghênh and lỗi hoàn toàn thuộc về Quốc Hội đã chan chủ trong the Bãi bỏ hay nội width limit mức. Và sự vi phạm này của các cơ quan nhà nước lại đáng hoan nghênh và lỗi hoàn toàn thuộc về Quốc Hội do đã chần chừ trong việc bãi bỏ hay nới rộng hạn mức.
- Ranh ranh chủ tích Huyện Tiên Lãng đã vi phạm quy định về timeout giao Đất: theo điều 20 Luật Đất Đai 1993 và điều 67 của Luật Đất Đai năm 2003, timeout giao Đất to nuoi trong thủy sản là 20 năm, chứ không hơn , không kem. Rành rành chủ tịch huyện Tiên Lãng đã vi phạm quy định về thời hạn giao đất: theo Điều 20 Luật Đất Đai 1993 và Điều 67 của Luật Đất Đai 2003, thời hạn giao đất để nuôi trồng thủy sản là 20 năm, chứ không hơn, không kém.
- And theo quy định của luat, timeout của 21 ha phải đến 2014 mới hết 20 năm (không thể vin vào lý làm giao Đất 11 ngày trước khi Luật 1993 có hiệu lực vì khi đó chủ tích Huyền còn phạm to cố ý Lạch luat làm Luật này be ban hành ngày 14-7-1993 and có hiệu lực vào ngày 15-10-1993 và 11 ngày sau cũng phải hiệu chỉnh thời limit); and timeout of 19,3 ha set giao năm 1997 phải đến 2018 mới hết limit. Và theo quy định của luật thì thời hạn của 21 ha phải đến 2014 mới hết 20 năm (không thể vin vào lý do giao đất 11 ngày trước khi Luật 1993 có hiệu lực vì khi đó chủ tịch huyện còn phạm tội cố ý lách luật do Luật này được ban hành ngày 14-7-1993 và có hiệu lực vào ngày 15-10-1993 và 11 ngày sau cũng phải hiệu chỉnh thời hạn); và thời hạn của 19,3 ha đất được giao năm 1997 phải đến 2018 mới hết hạn. It is a no nói đến điện tích hồ làm người dân lần bien tạo ra mà thực chất phải thuộc quyền sở hữu của người khai phá có be coi là Đất hay không, có thuộc phạm vi quy định of the luat Đất đai hay không. Đó là chưa nói đến diện tích hồ do người dân lấn biển tạo ra mà thực chất phải thuộc quyền sở hữu của người khai phá có được coi là đất hay không, có thuộc phạm vi quy định của các luật đất đai hay không. More than nữa, chỉ be thu hồi Đất theo điều 26 và 27 của Luật đó (hay điều 39 của Luật Đất Đai 2003) mà ambiguous theo of this does not thể thu hồi như quyết định của chủ tích Huyện Tiên Lãng. Hơn nữa, chỉ được thu hồi đất theo Điều 26 và 27 của Luật đó (hay Điều 39 của Luật Đất Đai 2003) mà rõ ràng theo các điều này thì không thể thu hồi như quyết định của chủ tịch huyện Tiên Lãng.
Based on thông tin diễn biến và 3 point nếu trên có thể nếu ra more than one configuration hỏi như sau: Dựa vào thông tin diễn biến và 3 điểm nêu trên có thể nêu ra vài cấu hỏi như sau:
- Tại sao không xử lý chủ tích Huyện Tiên Lãng về the sự vi phạm Pháp Luật ranh ranh nếu ở point 2 và 3 kế trên trong suot thời gian rất dài? Tại sao không xử lý chủ tịch huyện Tiên Lãng về những sự vi phạm pháp luật rành rành nêu ở điểm 2 và 3 kể trên trong suốt thời gian rất dài? Tại sao the kẻ dài hành và thiếu hiểu biết về Pháp Luật lại not pass vào the chức vụ quan trong như vậy? Tại sao những kẻ lộng hành và thiếu hiểu biết về pháp luật lại được đưa vào các chức vụ quan trọng như vậy? The nhà chức trạch của thành phố Hải Phòng và trung ương tại sao đã không xử lý? Các nhà chức trách của thành phố Hải Phòng và trung ương tại sao đã không xử lý?
- Tại sao chủ tich UBND Huyện Tiên Lãng lại muốn thu hồi hơn 40 ha của anh Vườn to chia nhỏ rồi giao cho the người khác? Tại sao chủ tịch UBND huyện Tiên Lãng lại muốn thu hồi hơn 40 ha của anh Vươn để chia nhỏ rồi giao cho những người khác? Since the chia nhỏ không phụ hợp với sự development of kinh doanh nuoi trong, phá Hoài sản xuất. Vì việc chia nhỏ không phù hợp với sự phát triển của kinh doanh nuôi trồng, phá hoại sản xuất. And the người khác này là ai? Và những người khác này là ai? Liệu có sự configuration kết center Ông anh chủ tich UBND Huyện and ÔNG em chủ tich UBND xã? Liệu có sự cấu kết giữa ông anh chủ tịch UBND huyện và ông em chủ tịch UBND xã? Việc thu hồi không đến offset là sự Cuop đoạt tài sản an cách trắng tron and left luat and Ông chủ tich UBND Huyện Tiên Lãng có phạm to the lam quyền? Việc thu hồi không đền bù là sự cướp đoạt tài sản một cách trắng trợn và trái luật và ông chủ tịch UBND huyện Tiên Lãng có phạm tội lạm quyền?
- Liệu quyết định thu hồi Đất của chủ tích Huyện Tiên Lãng là trái luat Liệu quyết định thu hồi đất của chủ tịch huyện Tiên Lãng là trái luật? (Theo the thông tin nếu ở the point 2 đến 3 kế trên, quyết định thu hồi Đất là hoàn toàn trái luat and the người dân kiện chính quyền and the Tòa yêu cầu 2 bên hòa giải là minh Certificate ambiguous về sự vi phạm luat đó của chính quyền; them ta không bàn ở đây về chuyện "hòa giải" và biên bản hòa giải của Tòa án, cũng như hành xử của chính quyền sau đó). (Theo các thông tin nêu ở các điểm 2 đến 3 kể trên, thì quyết định thu hồi đất là hoàn toàn trái luật và việc người dân kiện chính quyền và việc tòa yêu cầu 2 bên hòa giải là minh chứng rõ ràng về sự vi phạm luật đó của chính quyền; chúng ta không bàn ở đây về chuyện “hòa giải” và biên bản hòa giải của tòa án, cũng như hành xử của chính quyền sau đó).
- If Quyết định thu hồi Đất là trái Luật, If the Cường chế thu hồi Đất là trái Luật và trong case that the người tham gia Cường chế can be coi là "the người thi hành công vụ" hay không? Nếu quyết định thu hồi đất là trái luật, thì việc cưỡng chế thu hồi đất là trái luật và trong trường hợp đó những người tham gia cưỡng chế có thể được coi là “những người thi hành công vụ” hay không? Việc lực lượng Cường chế tiến vào Đất không bị Cường chế đã minh Certificate ambiguous về the làm sai trái their and như thế kho có thể invoke họ là the người "thi hành công vụ" mà be called là "the Kế Lâm hành công vụ ". Việc lực lượng cưỡng chế tiến vào đất không bị cưỡng chế đã minh chứng rõ ràng về việc làm sai trái của họ và như thế khó có thể gọi họ là những người “thi hành công vụ” mà phải gọi là “những kẻ lạm hành công vụ”. And nếu như vậy, quyết định start tố vụ án "chống người thi hành công vụ" liệu có trái Luật hay là sự làm quyền? Và nếu như vậy thì quyết định khởi tố vụ án “chống người thi hành công vụ” liệu có trái luật hay là sự lạm quyền?
- Tại sao bộ team lại tham gia? Tại sao bộ đội lại tham gia? If bộ team công binh be huy động to debugging min chỉ after min đã không có, còn có thể hiệu be. Nếu bộ đội công binh được huy động để gỡ mìn chỉ sau khi mìn đã nổ thì còn có thể hiểu được. If bộ team is huy động để tham gia Cường chế từ First, does not be allowed got; quan team not allowed Work đó; sứ network of quan team là chống out of Xâm chứ not tham gia giải quyết tranh accept Dân sự ; trong case này phải pass người đã Command cho bộ team tham gia Cường chế ra trước Tòa án binh. Nếu bộ đội được huy động để tham gia cưỡng chế từ đầu, thì không thể chấp nhận được; quân đội không được phép làm việc đó; sứ mạng của quân đội là chống ngoại xâm chứ không được tham gia giải quyết tranh chấp dân sự; trong trường hợp này phải đưa người đã lệnh cho bộ đội tham gia cưỡng chế ra trước tòa án binh. Bộ Quốc room phải làm rõ the vấn đề này để nhân dân is biết và nếu sai (tức là bộ team is huy động từ đầu), phải xử lý nghiệm that kẻ vi phạm để bảo vệ uy tin của Quân Đội. Bộ Quốc phòng phải làm rõ các vấn đề này để nhân dân được biết và nếu sai (tức là bộ đội được huy động từ đầu) thì phải xử lý nghiêm những kẻ vi phạm để bảo vệ uy tín của quân đội.
- Tại sao the người Cường chế lại mang vũ instruments tiến vào Khu nhà 2 tầng của anh Đào Văn Quý mà Khu Vực đó not a Khu Vực bị chính quyền thu hồi? Tại sao những người cưỡng chế lại mang vũ khí tiến vào khu nhà 2 tầng của anh Đào Văn Quý mà khu vực đó không phải là khu vực bị chính quyền thu hồi? Hành động đó có vi phạm chủ quyền of chủ nhà and the quyền công dân khác? Hành động đó có vi phạm chủ quyền của chủ nhà và các quyền công dân khác? Theo me là có, and vì thế them not coi là the người thi hành công vụ và hành động chống trả must be xem là room vệ chính đáng. Theo tôi là có, và vì thế họ không được coi là những người thi hành công vụ và hành động chống trả phải được xem là phòng vệ chính đáng.
Theo me, nguyên nhân chính của vụ đáng Sorry xay ra ngày 2012/05/01 tại công Rock, Quang Vinh, Tiên Lãng, Hải Phòng là the sự vi phạm Luật liên tiếp của chủ tich Huyện Tiên Lãng như nếu ở trên và trong the question ở the score 4-7 and score 9 ở trên, cũng như sự vi phạm luat của chính quyền trong the ra determine Cường chế và tổ chức Cường chế. Theo tôi, nguyên nhân chính của vụ đáng tiếc xảy ra ngày 5-1-2012 tại cống Rộc, Quang Vinh, Tiên Lãng, Hải Phòng là những sự vi phạm luật liên tiếp của chủ tịch huyện Tiên Lãng như nêu ở trên và trong các câu hỏi ở các điểm 4-7 và điểm 9 ở trên, cũng như sự vi phạm luật của chính quyền trong việc ra quyết định cưỡng chế và tổ chức cưỡng chế. The following người dài hành và vi phạm luat như Ông chủ tich Huyện phải bị trung trị. Những người lộng hành và vi phạm luật như ông chủ tịch huyện phải bị trừng trị. Chính sự dài quyền, sự vi phạm Pháp Luật trắng tron of người true đầu Huyện Tiên Lãng đã đầy gia đình anh Vườn vào Step route the same. Chính sự lộng quyền, sự vi phạm pháp luật trắng trợn của người đứng đầu huyện Tiên Lãng đã đẩy gia đình anh Vươn vào bước đường cùng.
And khi xem xét hành động đáng Sorry, của anh Đào Văn Quý (người đã ban) phải lưu ý đến bởi cảnh ấy. Và khi xem xét hành động đáng tiếc của anh Đào Văn Quý (người đã bắn) phải lưu ý đến bối cảnh ấy.
- Theo point 7 và 9 nếu trên, liệu hành động chống trả của anh Đào Văn Quý có phải là hành vi "room vệ chính đang" or hành vi "out of range room vệ chính đáng" theo điều 15 của Bộ Luật Hình sự ? Theo điểm 7 và 9 nêu trên, liệu hành động chống trả của anh Đào Văn Quý có phải là hành vi “phòng vệ chính đáng” hoặc hành vi “vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng” theo Điều 15 của Bộ Luật Hình sự?
- Tại sao Hội Nông Dân và Hội cuu chien binh không có thể thiệp để bảo vệ quyền Lợi hợp solution of the hội viên của mình trong suot thời gian tranh accept cũng như sau khi vụ the đã xay ra? Tại sao Hội Nông Dân và Hội cựu chiến binh không can thiệp để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các hội viên của mình trong suốt thời gian tranh chấp cũng như sau khi vụ việc đã xảy ra? Hay tổ chức xã hội dân sự nào có thể giúp người the cuu chien binh và Nông Dân bảo vệ quyền Lợi hợp pháp của mình trước sự dài hành of the quan chức local? Hay tổ chức xã hội dân sự nào có thể giúp những người cựu chiến binh và nông dân bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình trước sự lộng hành của các quan chức địa phương?
To trả lời cho the câu hỏi trên không thể giao cho chính quyền Hải Phòng xem xét, như the Bộ Tài nguyên environment giao cho sở Tài nguyên environment làm rõ, mà the cơ quan trung ương phải nhanh chong vào conversation. Để trả lời cho các câu hỏi trên không thể giao cho chính quyền Hải Phòng xem xét, như việc Bộ Tài nguyên môi trường giao cho sở Tài nguyên môi trường làm rõ, mà các cơ quan trung ương phải nhanh chóng vào cuộc.
And có thể còn phải đặt ra nhiều câu hỏi khác, example vai trò and Trạch Nhiệm của Quốc Hội đến đâu? Và có thể còn phải đặt ra nhiều câu hỏi khác, thí dụ vai trò và trách nhiệm của Quốc Hội đến đâu?
Vụ đáng Sorry, ở Tiên Lãng ngày 2012/05/01 là vụ hết sức Fatal. Vụ đáng tiếc ở Tiên Lãng ngày 5-1-2012 là vụ hết sức nghiêm trọng. We ta chờ xem Quốc Hội, Chính phủ and its cơ quan tư method hành xử ra sao. Chúng ta chờ xem Quốc Hội, Chính phủ và các cơ quan tư pháp hành xử ra sao. If dùng tung the quan chức local, không nghiệm trị of hành vi phạm Pháp Luật của họ, nếu xử không công bằng đối with the người vừa bị bắt,, hậu quả có thể rất kho lương. Nếu dung túng các quan chức địa phương, không nghiêm trị các hành vi phạm pháp luật của họ, nếu xử không công bằng đối với những người vừa bị bắt, thì hậu quả có thể rất khó lường.
Thứ Sáu, 13 tháng 1, 2012
"GIỌT NƯỚC TRÀN LY" HAY VỠ BỜ ?
Sự kiện Tiên Lãng và "giọt nước tràn ly"
Tác giả: Gs. TsKh. Đặng Hùng Võ
Bài đã được xuất bản.: 13/01/2012 15:30 GMT+7
Hải Phòng thừa nhận cưỡng chế "quá tay"
Câu hỏi sau vụ chống cưỡng chế ở Hải Phòng
Vụ cưỡng chế Tiên Lãng - đỉnh điểm xung đột về đất đai
Người nông dân thường chịu đựng trước những oan trái của mình. Nhưng những con người thuần khiết nhất, sức chịu đựng giỏi nhất cũng có giới hạn. Chỉ cần một giọt nước, giọt nước cuối cùng cũng làm nước tràn khỏi ly nước, đó chính là giới hạn dẫn đến phản kháng. Việc cưỡng chế thu hồi đất luôn đóng vai trò giọt nước tràn ly. Những người chịu đựng cao thì tính tới việc hủy hoại thân mình để biểu lộ sự oan khuất. Những người quyết liệt hơn thì động viên những người cùng cảnh ngộ để cùng nhau khiếu kiện đến cùng cho đỡ đơn độc. Những người vô vọng thì thể hiện bằng những cách tiêu cực nhất trong vô vọng... Cách nhìn nhận vấn đề lúc này phải thật khách quan, công bằng và thẳng thắn, có lý và có tình. Việc xử lý cụ thể là việc nhỏ những giải quyết những vấn đề cốt lõi về đất đai, về chính quyền nhân dân mới là việc lớn.
Cái sai của quá trình giao đất, thu hồi đất và cưỡng chế thu hồi đất so với các quy định của pháp luật
1. Từ đầu tháng 10/1993 cho tới 2005, UBND huyện Tiên Lãng đã ban hành nhiều Quyết định giao đất hoang hóa ven biển tại xã Vinh Quang cho nhiều hộ gia đình thuộc các xã kề cận để cải tạo nuôi trồng thủy sản. Thời hạn sử dụng đất được giao rất khác nhau và diện tích được giao cũng rất khác nhau, vài năm cũng có, tới 14 hay 15 năm cũng có và tới 20 năm cũng có. Diện tích đất được giao cũng rất khác nhau, từ vài ha tới vài chục ha cho mỗi cá nhân.
Theo quy định của pháp luật lúc đó, cơ chế giao đất bãi bồi ven biển căn cứ vào:
(1) Điều 50 của Luật Đất đai 1993 "Việc quản lý, sử dụng đất mới bồi ven biển do Chính phủ quy định";
(2) Quyết định số 773-TTg ngày 21/12/1994 của Thủ tướng Chính phủ về Chương trình khai thác, sử dụng đất hoang hoá, bãi bồi ven sông, ven biển và mặt nước ở các vùng đồng bằng, trong đó Điều 13 quy định hạn mức giao đất là từ 2 đến 10 hécta;
(3) Nghị định số 64-CP ngày 27/9/1993 về việc ban hành Bản quy định về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp, trong đó thời hạn sử dụng đất là 20 năm (nếu đất được giao từ ngày 15/10/1993 trở về trước thì thời hạn được tính thống nhất từ ngày 15/10/1993, nếu đất được giao sau ngày 15/10/1993 thì tính từ ngày giao).
Như vậy các Quy định giao đất của Tiên Lãng có biểu hiện tùy tiện về cả thời hạn lẫn hạn mức diện tích. Theo đúng pháp luật thì thời hạn là 20 năm và hạn mức cho hộ gia đình là từ 2 tới 10 ha. Vậy thì việc thực thi pháp luật căn cứ vào pháp luật của Nhà nước hay căn cứ vào Quyết định của huyện. Ai cũng biết rằng phải căn cứ vào pháp luật của Nhà nước.
2. Hết thời hạn, các hộ gia đình đều nhận được Thông báo của UBND huyện dừng đầu tư sản xuất nuôi trồng thủy sản trên diện tích đất được giao. Sau khi ban hành Thông báo, UBND huyện ban hành Quyết định thu hồi đất căn cứ vào Khoản 10 Điều 38 của Luật Đất đai (Đất được Nhà nước giao, cho thuê có thời hạn mà không được gia hạn khi hết thời hạn).
Vì việc thu hồi đất xẩy ra sau ngày Luật Đất đai 2003 có hiệu lực thi hành (01/07/2004) nên phải căn cứ vào Luật Đất đai 2003 và Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 về thi hành Luật Đất đai. Khoản 1 Điều 34 của Nghị định 181 quy định rằng khi hết thời hạn sử dụng đất, các hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp sử dụng đất nông nghiệp do được Nhà nước giao được tiếp tục sử dụng đất với thời hạn đã quy định (20 năm), trừ các trường hợp: (1) Nhà nước có quyết định thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh tế; (2) Người sử dụng đất cố ý hủy hoại đất; (3) Cá nhân sử dụng đất chết mà không có người thừa kế; (4) Người sử dụng đất tự nguyện trả lại đất; (5) Đất không được sử dụng liên tục trong thời hạn quy định (12 tháng đối với đất trồng cây hàng năm, 18 tháng đối với đất trồng cây lâu năm, 24 tháng đối với đất trồng rừng). Lưu ý rằng, quy định tại Khoản 1 Điều 34 không trừ trường hợp hết thời hạn quy định tại Khoản 10 Điều 38 của Luật Đất đai mà UBND huyện Tiên Lãng lấy làm căn cứ để ban hành Quyết định thu hồi đất. Như vậy quyết định thu hồi đất căn cứ vào Khoản 10 Điều 38 của Luật Đất đai là hoàn toàn trái pháp luật.
3. Các hộ gia đình bị thu hồi đất bắt đầu thực hiện khiếu nại hành chính và khởi kiện hành chính, Tòa án Huyên Tiên Lãng đã xét xử sơ thẩm và tuyên UBND huyện thắng kiện. Các hộ gia đình lại khởi kiện lên tòa án thành phố Hải Phòng để được xét xử phúc thẩm. Tòa án thành phố yêu cầu UBND huyện Tiên Lãng và các hộ gia đình hòa giải, hai bên đã hòa giải theo Biên bản với nội dung là các hộ gia đình rút đơn kiện và UBND huyện sẽ làm thủ tục theo quy định của pháp luật nếu các hộ có nhu cầu tiếp tục sử dụng đất đai. Trên thực tế, UBND huyện không thực hiện theo Biên bản này mà tiếp tục thực hiện cưỡng chế thu hồi đất. Việc thực hiện cưỡng chế thu hồi đất bằng lực lượng vũ trang đã diễn ra và sự chống đối của người dân cũng đã diễn ra.
Điều quan trọng cần rút ra ở đây là nếu không có các Quyết định sai pháp luật của UBND huyện Tiên Lãng về thu hồi đất và cưỡng chế thu hồi đất thì cuộc sống của người nông dân ở đó vẫn bình lặng, lực lượng vũ trang của huyện cũng đỡ vất vả. Việc thu hồi đất sản xuất giao cho hộ gia đình nông dân trước thời hạn 20 năm là một cái sai "tầy đình".
Vấn đề quyết định thế nào đối với thời hạn sử dụng đất sản xuất nông nghiệp khi hết thời hạn 20 năm đã được xem xét tại Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX (năm 2002), chưa quyết định được và để lại để giải quyết trước thời điểm thời hạn sớm nhất kết thúc là 15/10/2013. Nội dung quan trọng này cũng sẽ được Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa này quyết định vào thời gian tới và cũng là nội dung quan trọng của Luật Đất đai mới sẽ được Quốc hội thông qua trước năm 2013. Vấn đề lớn như vậy mà huyện Tiên Lãng coi như chuyện "vặt", làm sai hết. Tôi có cảm giác như huyện Tiên Lãng không biết địa phận của mình đang nằm trong lãnh thổ Việt Nam.
Nói gì từ những sự việc áp dụng sai pháp luật của UBND huyện Tiên Lãng
1. Việc áp dụng sai pháp luật đất đai không phải chỉ ở UBND huyện mà ở cả Tòa án nhân dân huyện. Hơn nữa, những luận cứ đưa ra trong áp dụng pháp luật theo kiểu "không trung thực", kể cả luận cứ của Tòa án nhân dân huyện trong xét xử sơ thẩm. Ở đây cho thấy, khó có thể đạt được tính độc lập của Tòa án cấp huyện khi xử các vụ kiện hành chính đối với quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính của UBND cấp huyện. Tòa án thành phố cũng giải quyết nửa vời bằng cách cho thương thảo lại. Đáng nhẽ, khi thu lý vụ án thì Tòa án thành phố phải hiểu ngay những sai trái của chính quyền đang diễn ra, sai không chỉ pháp luật mà còn quyết định trước cả những vấn đề mà Trung ương Đảng chưa quyết định.
2. Nhiều cơ quan hành chính ở địa phương có quan niệm rất sai về cơ chế Nhà nước thu hồi đất. Đã có rất nhiều ý kiến phản ảnh rằng các cán bộ thừa hành ở cấp huyện hay nói "Nhà nước có quyền muốn thu hồi đất của ai thì thu". Đây là một cách nói rất sai, làm mất uy tín của Nhà nước ta. Cơ chế Nhà nước thu hồi đất được áp dụng theo quy định của luật pháp, chỉ được thực hiện trong những trường hợp nhất định và khi thực hiện phải tuân thủ trình tự, thủ tục rất rõ ràng. Các cơ quan có thẩm quyền cũng chỉ được áp dụng thẩm quyền theo quy định của luật pháp, không thể "dọa dân" bằng quyền lực thu hồi đất "vô biên" như vậy.
3. Theo những nghiên cứu về các nguy cơ tham nhũng trong quản lý đất đai ở nước ta hiện nay, cơ chế Nhà nước thu hồi đất chứa các nguy cơ tham nhũng cao nhất. Đằng sau quyết định thu hồi đất là quyết định sẽ giao đất đó cho ai? Về bản chất, quyết định thu hồi đất là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định lấy đất của người này giao cho người khác. Đằng sau quyết định hành chính này thường chứa chất những mối quan hệ kinh tế phức tạp, dễ gắn với tư lợi của người có thẩm quyền, của cơ quan có thẩm quyền. Vậy thì ai sẽ là người chờ phía sau của quyết định thu hồi đất của UBND huyện Tiên Lãng để chờ được giao đất đã thu hồi của dân. Theo quy hoạch thì đất nuôi trồng thủy sản ở đó vẫn để nuôi trồng thủy sản. Đáng lẽ thì UBND huyện phải tạo điều kiện hỗ trợ nhiều hơn cho người dân đã có công khai phá để nâng cao năng suất và sản lượng. Không làm được vậy thì thôi, đừng làm đảo lộn người sử dụng đất mà tạo nên sự bất ổn định trong Tam Nông.
4. Việc sử dụng lực lượng vũ trang để cưỡng chế thu hồi đất là một biện pháp không hay, các địa phương không nên áp dụng. Việc áp dụng cơ chế thu hồi đất luôn luôn là mối quan hệ giữa chính quyền của nhân dân và nhân dân. Nguyên tắc thuyết phục và đồng thuận, tận dụng sự tham gia của cộng đồng cần được đặt lên hàng đầu. Lực lượng vũ trang có nhiều việc hệ trọng phải tập trung vào làm.
5. Hệ thống kiểm tra của cơ quan hành chính đối với các cơ quan trực thuộc ở ta còn rất kém. Hệ thống giám sát của Hội đồng nhân dân đối với Ủy ban nhân dân ở ta cũng rất yếu. Mọi việc diễn ra ở Tiên Lãng cho thấy rõ điều này. Một việc sai phạm pháp luật về đất đai đến như vậy, ý kiến oan trái của cả một tập thể nông dân nhiều đến như vậy mà không thấy xuất một hình bóng nào của công tác kiểm tra và giám sát.
6. Chính quyền phải giữ chữ "tín" với dân, không thể thỏa thuận với dân một đằng rồi lại làm một nẻo. Vật chất có thể mua được nhưng lòng dân không bao giờ mua được. Dân tin khi những người thay mặt cho chính quyền giữ đúng chữ "tín" trước với dân. Hãy cho dân trước rồi mới lấy đi của dân.
7. Vấn đề đất đai cho nông dân không hề đơn giản. Trong chế độ thực dân, phong kiến, người nông dân trực tiếp sản xuất không có ruộng, phải làm thuê, cuốc mướn, cấy rẽ. Người nông dân đã bị phong kiến, đế quốc bần cùng hóa để phải rời bỏ ruộng vườn. Hầu hết nông dân đã lên đường làm cách mạng vì một mục tiêu rất giản dị: có ruộng để cầy. Người nông dân Việt Nam ít được học nhưng sống luôn có đạo lý, biết hy sinh và cũng biết phẫn nộ.
8. Động viên tốt, người nông dân đã từng nhịn ăn để nuôi các chiến sỹ cách mạng, đã từng đem giường ngủ ra lát đường cho xe ra tiền tuyến, đã từng hiến đất để làm trường học, mở bệnh viện, v.v. Họ hy sinh cả vật chất và tinh thần rất vui vẻ. Những người nông dân đa số là chịu đựng mặc dù biết rằng oan trái. Việc người nông dân oan trái trong mất ruộng đất đang xẩy ra ở nhiều nơi. Đừng coi câu chuyện này đơn giản, xem xét một chiều, vô cảm.
9. Việc động viên các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân tham gia khai hoang, phục hóa, lấn biển là một chính sách lớn của Nhà nước. Cần có nhiều ưu đãi đối với những ai làm tốt việc này. Cái ưu đãi lớn nhất đối với người nông dân là hãy để cho họ ổn định làm ăn khi họ đang sử dụng đất có hiệu quả. Nếu Nhà nước cần đất hãy tính đến chuyện lấy đất ở những nơi đang sử dụng không hiệu quả. Khai khẩn, thuần dưỡng đất hoang hóa là công việc rất nặng nhọc. Trên từng thước đất có mồ hôi, nước mắt và có cả máu của người nông dân nữa. Chúng ta đừng dửng dưng với việc này mà phải hiểu hơn nữa người nông dân mới hy vọng làm cho tam nông tốt lên được.
Vài lời kết
Có thể coi sự việc vừa qua ở Tiên Lãng là đỉnh điểm của những bất cập về cả pháp luật đất đai và việc thực thi pháp luật ở các cấp địa phương. Một người nông dân tốt, thuần chất, ham lao động mà phải bảo vệ quyền lợi đất đai của mình bằng vũ khí tự tạo thì quả là cùng cực. Con người ai cũng tin vào công lý và tin vào công lý đó được pháp luật bảo vệ. Những người nông dân khai phá đất nuôi trồng thủy sản ở Tiên Lãng chắc chắn cũng tin như vậy. Rồi tới tòa án, nơi rất công bằng, mà những chân lý giản dị như họ tự hiểu cũng vẫn không nhìn thấy. Họ phải tự quyết liệt một mình trong vô vọng...
http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2012-01-13-su-kien-tien-lang-va-giot-nuoc-tran-ly-
Câu hỏi sau vụ chống cưỡng chế ở Hải Phòng
Vụ cưỡng chế Tiên Lãng - đỉnh điểm xung đột về đất đai
Người nông dân thường chịu đựng trước những oan trái của mình. Nhưng những con người thuần khiết nhất, sức chịu đựng giỏi nhất cũng có giới hạn. Chỉ cần một giọt nước, giọt nước cuối cùng cũng làm nước tràn khỏi ly nước, đó chính là giới hạn dẫn đến phản kháng. Việc cưỡng chế thu hồi đất luôn đóng vai trò giọt nước tràn ly. Những người chịu đựng cao thì tính tới việc hủy hoại thân mình để biểu lộ sự oan khuất. Những người quyết liệt hơn thì động viên những người cùng cảnh ngộ để cùng nhau khiếu kiện đến cùng cho đỡ đơn độc. Những người vô vọng thì thể hiện bằng những cách tiêu cực nhất trong vô vọng... Cách nhìn nhận vấn đề lúc này phải thật khách quan, công bằng và thẳng thắn, có lý và có tình. Việc xử lý cụ thể là việc nhỏ những giải quyết những vấn đề cốt lõi về đất đai, về chính quyền nhân dân mới là việc lớn.
Cái sai của quá trình giao đất, thu hồi đất và cưỡng chế thu hồi đất so với các quy định của pháp luật
1. Từ đầu tháng 10/1993 cho tới 2005, UBND huyện Tiên Lãng đã ban hành nhiều Quyết định giao đất hoang hóa ven biển tại xã Vinh Quang cho nhiều hộ gia đình thuộc các xã kề cận để cải tạo nuôi trồng thủy sản. Thời hạn sử dụng đất được giao rất khác nhau và diện tích được giao cũng rất khác nhau, vài năm cũng có, tới 14 hay 15 năm cũng có và tới 20 năm cũng có. Diện tích đất được giao cũng rất khác nhau, từ vài ha tới vài chục ha cho mỗi cá nhân.
Theo quy định của pháp luật lúc đó, cơ chế giao đất bãi bồi ven biển căn cứ vào:
(1) Điều 50 của Luật Đất đai 1993 "Việc quản lý, sử dụng đất mới bồi ven biển do Chính phủ quy định";
(2) Quyết định số 773-TTg ngày 21/12/1994 của Thủ tướng Chính phủ về Chương trình khai thác, sử dụng đất hoang hoá, bãi bồi ven sông, ven biển và mặt nước ở các vùng đồng bằng, trong đó Điều 13 quy định hạn mức giao đất là từ 2 đến 10 hécta;
(3) Nghị định số 64-CP ngày 27/9/1993 về việc ban hành Bản quy định về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp, trong đó thời hạn sử dụng đất là 20 năm (nếu đất được giao từ ngày 15/10/1993 trở về trước thì thời hạn được tính thống nhất từ ngày 15/10/1993, nếu đất được giao sau ngày 15/10/1993 thì tính từ ngày giao).
Như vậy các Quy định giao đất của Tiên Lãng có biểu hiện tùy tiện về cả thời hạn lẫn hạn mức diện tích. Theo đúng pháp luật thì thời hạn là 20 năm và hạn mức cho hộ gia đình là từ 2 tới 10 ha. Vậy thì việc thực thi pháp luật căn cứ vào pháp luật của Nhà nước hay căn cứ vào Quyết định của huyện. Ai cũng biết rằng phải căn cứ vào pháp luật của Nhà nước.
| Ngôi nhà 2 tầng bị phá hủy |
Vì việc thu hồi đất xẩy ra sau ngày Luật Đất đai 2003 có hiệu lực thi hành (01/07/2004) nên phải căn cứ vào Luật Đất đai 2003 và Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 về thi hành Luật Đất đai. Khoản 1 Điều 34 của Nghị định 181 quy định rằng khi hết thời hạn sử dụng đất, các hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp sử dụng đất nông nghiệp do được Nhà nước giao được tiếp tục sử dụng đất với thời hạn đã quy định (20 năm), trừ các trường hợp: (1) Nhà nước có quyết định thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh tế; (2) Người sử dụng đất cố ý hủy hoại đất; (3) Cá nhân sử dụng đất chết mà không có người thừa kế; (4) Người sử dụng đất tự nguyện trả lại đất; (5) Đất không được sử dụng liên tục trong thời hạn quy định (12 tháng đối với đất trồng cây hàng năm, 18 tháng đối với đất trồng cây lâu năm, 24 tháng đối với đất trồng rừng). Lưu ý rằng, quy định tại Khoản 1 Điều 34 không trừ trường hợp hết thời hạn quy định tại Khoản 10 Điều 38 của Luật Đất đai mà UBND huyện Tiên Lãng lấy làm căn cứ để ban hành Quyết định thu hồi đất. Như vậy quyết định thu hồi đất căn cứ vào Khoản 10 Điều 38 của Luật Đất đai là hoàn toàn trái pháp luật.
3. Các hộ gia đình bị thu hồi đất bắt đầu thực hiện khiếu nại hành chính và khởi kiện hành chính, Tòa án Huyên Tiên Lãng đã xét xử sơ thẩm và tuyên UBND huyện thắng kiện. Các hộ gia đình lại khởi kiện lên tòa án thành phố Hải Phòng để được xét xử phúc thẩm. Tòa án thành phố yêu cầu UBND huyện Tiên Lãng và các hộ gia đình hòa giải, hai bên đã hòa giải theo Biên bản với nội dung là các hộ gia đình rút đơn kiện và UBND huyện sẽ làm thủ tục theo quy định của pháp luật nếu các hộ có nhu cầu tiếp tục sử dụng đất đai. Trên thực tế, UBND huyện không thực hiện theo Biên bản này mà tiếp tục thực hiện cưỡng chế thu hồi đất. Việc thực hiện cưỡng chế thu hồi đất bằng lực lượng vũ trang đã diễn ra và sự chống đối của người dân cũng đã diễn ra.
Điều quan trọng cần rút ra ở đây là nếu không có các Quyết định sai pháp luật của UBND huyện Tiên Lãng về thu hồi đất và cưỡng chế thu hồi đất thì cuộc sống của người nông dân ở đó vẫn bình lặng, lực lượng vũ trang của huyện cũng đỡ vất vả. Việc thu hồi đất sản xuất giao cho hộ gia đình nông dân trước thời hạn 20 năm là một cái sai "tầy đình".
Vấn đề quyết định thế nào đối với thời hạn sử dụng đất sản xuất nông nghiệp khi hết thời hạn 20 năm đã được xem xét tại Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX (năm 2002), chưa quyết định được và để lại để giải quyết trước thời điểm thời hạn sớm nhất kết thúc là 15/10/2013. Nội dung quan trọng này cũng sẽ được Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa này quyết định vào thời gian tới và cũng là nội dung quan trọng của Luật Đất đai mới sẽ được Quốc hội thông qua trước năm 2013. Vấn đề lớn như vậy mà huyện Tiên Lãng coi như chuyện "vặt", làm sai hết. Tôi có cảm giác như huyện Tiên Lãng không biết địa phận của mình đang nằm trong lãnh thổ Việt Nam.
Nói gì từ những sự việc áp dụng sai pháp luật của UBND huyện Tiên Lãng
1. Việc áp dụng sai pháp luật đất đai không phải chỉ ở UBND huyện mà ở cả Tòa án nhân dân huyện. Hơn nữa, những luận cứ đưa ra trong áp dụng pháp luật theo kiểu "không trung thực", kể cả luận cứ của Tòa án nhân dân huyện trong xét xử sơ thẩm. Ở đây cho thấy, khó có thể đạt được tính độc lập của Tòa án cấp huyện khi xử các vụ kiện hành chính đối với quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính của UBND cấp huyện. Tòa án thành phố cũng giải quyết nửa vời bằng cách cho thương thảo lại. Đáng nhẽ, khi thu lý vụ án thì Tòa án thành phố phải hiểu ngay những sai trái của chính quyền đang diễn ra, sai không chỉ pháp luật mà còn quyết định trước cả những vấn đề mà Trung ương Đảng chưa quyết định.
2. Nhiều cơ quan hành chính ở địa phương có quan niệm rất sai về cơ chế Nhà nước thu hồi đất. Đã có rất nhiều ý kiến phản ảnh rằng các cán bộ thừa hành ở cấp huyện hay nói "Nhà nước có quyền muốn thu hồi đất của ai thì thu". Đây là một cách nói rất sai, làm mất uy tín của Nhà nước ta. Cơ chế Nhà nước thu hồi đất được áp dụng theo quy định của luật pháp, chỉ được thực hiện trong những trường hợp nhất định và khi thực hiện phải tuân thủ trình tự, thủ tục rất rõ ràng. Các cơ quan có thẩm quyền cũng chỉ được áp dụng thẩm quyền theo quy định của luật pháp, không thể "dọa dân" bằng quyền lực thu hồi đất "vô biên" như vậy.
| Hải Phòng cũng thừa nhận đã “cưỡng chế quá tay” vụ thu hồi đầm của Đoàn Văn Vươn. |
4. Việc sử dụng lực lượng vũ trang để cưỡng chế thu hồi đất là một biện pháp không hay, các địa phương không nên áp dụng. Việc áp dụng cơ chế thu hồi đất luôn luôn là mối quan hệ giữa chính quyền của nhân dân và nhân dân. Nguyên tắc thuyết phục và đồng thuận, tận dụng sự tham gia của cộng đồng cần được đặt lên hàng đầu. Lực lượng vũ trang có nhiều việc hệ trọng phải tập trung vào làm.
5. Hệ thống kiểm tra của cơ quan hành chính đối với các cơ quan trực thuộc ở ta còn rất kém. Hệ thống giám sát của Hội đồng nhân dân đối với Ủy ban nhân dân ở ta cũng rất yếu. Mọi việc diễn ra ở Tiên Lãng cho thấy rõ điều này. Một việc sai phạm pháp luật về đất đai đến như vậy, ý kiến oan trái của cả một tập thể nông dân nhiều đến như vậy mà không thấy xuất một hình bóng nào của công tác kiểm tra và giám sát.
6. Chính quyền phải giữ chữ "tín" với dân, không thể thỏa thuận với dân một đằng rồi lại làm một nẻo. Vật chất có thể mua được nhưng lòng dân không bao giờ mua được. Dân tin khi những người thay mặt cho chính quyền giữ đúng chữ "tín" trước với dân. Hãy cho dân trước rồi mới lấy đi của dân.
7. Vấn đề đất đai cho nông dân không hề đơn giản. Trong chế độ thực dân, phong kiến, người nông dân trực tiếp sản xuất không có ruộng, phải làm thuê, cuốc mướn, cấy rẽ. Người nông dân đã bị phong kiến, đế quốc bần cùng hóa để phải rời bỏ ruộng vườn. Hầu hết nông dân đã lên đường làm cách mạng vì một mục tiêu rất giản dị: có ruộng để cầy. Người nông dân Việt Nam ít được học nhưng sống luôn có đạo lý, biết hy sinh và cũng biết phẫn nộ.
8. Động viên tốt, người nông dân đã từng nhịn ăn để nuôi các chiến sỹ cách mạng, đã từng đem giường ngủ ra lát đường cho xe ra tiền tuyến, đã từng hiến đất để làm trường học, mở bệnh viện, v.v. Họ hy sinh cả vật chất và tinh thần rất vui vẻ. Những người nông dân đa số là chịu đựng mặc dù biết rằng oan trái. Việc người nông dân oan trái trong mất ruộng đất đang xẩy ra ở nhiều nơi. Đừng coi câu chuyện này đơn giản, xem xét một chiều, vô cảm.
9. Việc động viên các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân tham gia khai hoang, phục hóa, lấn biển là một chính sách lớn của Nhà nước. Cần có nhiều ưu đãi đối với những ai làm tốt việc này. Cái ưu đãi lớn nhất đối với người nông dân là hãy để cho họ ổn định làm ăn khi họ đang sử dụng đất có hiệu quả. Nếu Nhà nước cần đất hãy tính đến chuyện lấy đất ở những nơi đang sử dụng không hiệu quả. Khai khẩn, thuần dưỡng đất hoang hóa là công việc rất nặng nhọc. Trên từng thước đất có mồ hôi, nước mắt và có cả máu của người nông dân nữa. Chúng ta đừng dửng dưng với việc này mà phải hiểu hơn nữa người nông dân mới hy vọng làm cho tam nông tốt lên được.
Vài lời kết
Có thể coi sự việc vừa qua ở Tiên Lãng là đỉnh điểm của những bất cập về cả pháp luật đất đai và việc thực thi pháp luật ở các cấp địa phương. Một người nông dân tốt, thuần chất, ham lao động mà phải bảo vệ quyền lợi đất đai của mình bằng vũ khí tự tạo thì quả là cùng cực. Con người ai cũng tin vào công lý và tin vào công lý đó được pháp luật bảo vệ. Những người nông dân khai phá đất nuôi trồng thủy sản ở Tiên Lãng chắc chắn cũng tin như vậy. Rồi tới tòa án, nơi rất công bằng, mà những chân lý giản dị như họ tự hiểu cũng vẫn không nhìn thấy. Họ phải tự quyết liệt một mình trong vô vọng...
http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2012-01-13-su-kien-tien-lang-va-giot-nuoc-tran-ly-
Thứ Năm, 12 tháng 1, 2012
CHUYỆN ĐẤT ĐAI TỪ TIÊN LÃNG - TÔI YÊU BÁC NÔNG PHU ĐỘI MƯA NẮNG BÊN BỜ BIỂN ĐÔNG...
Tâm trạng: Vui vẻ
Đôi điều xin thưa với Thứ Trưởng Đặng Hùng Võ
Cựu thứ trưởng Đặng Hùng Võ vừa lên tiếng về vụ Đoàn Văn Vươn trên báo Tuổi Trẻ hôm qua là một điều đáng mừng. Ý kiến của ông Võ dễ thuyết phục vì không dựa lên tình cảm mà dựa lên luật lệ nhà nước. Hy vọng các cơ quan hữu trách theo tinh thần của Thứ trưởng Đặng Hùng Võ để giải quyết thỏa đáng vấn đề này. Tuy vậy, các ý kiến của ông Võ, trên phương diện kỹ thuật, theo tôi vẫn có một vài lấn cấn, không phải do kiến thức, mà đến từ « cơ chế » của nhà nước. Tôi nghĩ rằng luật lệ áp dụng cho trường hợp « thâu hồi đất » của ông Vươn có một số điều mâu thuẫn, nhất là các điểm về thể lệ giao đất, diện tích tối đa đất được giao, thời hạn được sử dụng đất, phương thức thâu hồi đất... Ngoài ra còn có những mâu thuẫn giữa tính công bằng của xã hội chủ nghĩa với quyền tư hữu của kinh tế thị trường, hoặc giữa « tư điền » là tập tục ngàn năm của dân tộc Việt với « sở hữu đất đai thuộc về toàn dân » của chủ nghĩa xã hội. Nếu đúng như tôi nghĩ, trường hợp cá biệt của Đoàn Văn Vươn, nếu chỉ dựa hoàn toàn trên pháp luật (mà pháp luật có điều không ổn) thì việc giải quyết chắc chắn sẽ gây nên những điều oan ức. Việc nổ súng đáng tiếc trong khi giải tỏa đất đã nói trước việc này. Hy vọng ông Võ (hay người có thẩm quyền khác) sẽ lên tiếng giải thích. Các thắc mắc của tôi gồm các điểm :
1/ Phân loại khu vực đất :
Thứ trưởng Đặng Hùng Võ nhận xét : « theo Luật đất đai năm 1993, cụ thể là theo nghị định 64 về việc giao đất sản xuất đối với đối tượng ở đây là giao đất sản xuất trồng cây hằng năm, nuôi trồng thủy sản, làm muối... »
Tôi nghĩ khác. Khu vực gọi là « đất » mà ông Vươn sử dụng từ năm 1993 không thuộc vào bất kỳ một loại « đất » nào đã được qui định theo điều 11 bộ Luật đất đai năm 1993 hay điều 13 bộ Luật đất đai năm 2003.
Thật vậy, trước khi « khu vực đất » này được giao cho ông Vươn thì nó không thể gọi là « đất » để « trồng cây hàng năm », cũng không thể gọi đơn thuần là « đầm » để « nuôi trồng thủy sản », và nó cũng không thể sử dụng vào việc « làm muối » như Thứ Trưởng Võ đã nói. Nếu chiếu theo Luật Hồng Đức thì khu vực này không thuộc diện « điền » (không thể trồng trọt hay làm muối – diêm điền), cũng không thuộc diện « thổ » (không thể định cư), và cũng không thuộc diện « trạch » (không thể nuôi cá).
Đây là một khu vực đất đang bồi, thường xuyên ngập nước biển và hàng năm chịu nhiều thiên tai bão lụt. Theo luật của các (nước Tây phương) hay Luật về thổ trạch ở VN các thời kỳ trước, vì lý do an ninh, các vùng đất này không được nhà nước cấp cho dân, hay không khuyến khích cho dân khai hoang, vỡ hóa... nhằm định cư hay khai thác kinh tế.
Vấn đề đặt ra, theo pháp luật, nhà nước có thể cấp cho ông Vươn khai thác « khu vực đất » đó hay không ? Nhà nước có trách nhiệm gì nếu tai nạn do thiên tai (bão, lụt) đổ xuống ?
2/ Tính không hợp lý của việc thâu hồi đất trong bộ Luật về đất đai.
Nhưng « khu vực đất » này vẫn được chính quyền địa phương Hải Phòng cấp cho ông Vươn khai thác, bất chấp những hiểm nguy có thể gây ra cho cá nhân và gia đình ông Vươn.
Để biến khu vực « đất không thể sinh sống » thành một khu vực xếp vào hạng « điền trạch » (tức vừa định cư vừa nuôi thủy sản), ông Vươn đã sử dụng kiến thức kỹ sư của mình để làm các việc sau :
a) Đắp một con đê dài 2 cây số để ngăn lũ lụt, (con đê này đem lại lợi ích cho nhiều gia đình lân cận, chứ không hẳn cho cá nhân ông Vươn)
b) Trồng cây vẹt để giữ đất bồi đồng thời để che bão
c) Đổ đất, cát, đá... làm nền
Làm các công trình (a) và (b) ông Vươn đã biến một vùng bờ biển hiểm nguy thành một cái « trạch » (đầm nước) có an ninh. Công trình (c) biến một góc « trạch » thành « điền » (đất trồng trọt) và « thổ » (đất xây cất). Sau 17 năm gầy dựng, ông Vươn đã tạo ra một « khu vực điền - thổ - trạch » có diện tích là 40 ha. Điều đáng chú ý là khu vực này, theo lời dân sống ở đó, trước khi giao cho ông Vươn, « nhà nước không dám khai phá ».
Nhà nước thâu hồi đất này dựa trên điều 6 Luật đất đai 2003, theo qui định khoản đ) « chuyển mục đích sử dụng đất ». Dĩ nhiên nhà nước có quyền, theo Hiến pháp và Luật, nhưng thử đặt giả thuyết : nếu « khu vực đất » đó không giao cho ông Vươn, tức vẫn còn là một vùng đầm lầy phủ sóng và luôn chịu gió bão, liệu nhà nước có thâu hồi hay không ?
Nếu câu trả lời là « không » thì không có lý do gì nhà nước hôm nay lại thâu hồi khu vực đất ấy.
Trong khi điều 12 qui định : Nhà nước có chính sách khuyến khích người sử dụng đất đầu tư lao động, vật tư, tiền vốn và áp dụng thành tựu khoa học và công nghệ để « Khai hoang, phục hoá, lấn biển, đưa diện tích đất trống, đồi núi trọc, đất có mặt nước hoang hoá vào sử dụng » (khoản 1)
Ông Vươn đã tin tưởng vào điều luật đó, đã đem kiến thức khoa học, tiền vốn và công sức để làm các điều mà nhà nước khuyến khích.
Vậy mà nhà nước đã có quyết định thâu hồi (trong khi thời hạn sử dụng chưa mãn).
Người ta không thể vừa « khuyến khích » vừa « thâu hồi ». Ở đây « khuyến khích » có nghĩa là cho làm, « thâu hồi » có nghĩa là không cho làm. Mâu thuẫn ở đây khá rõ rệt. Việc này làm mất niềm tin của dân chúng vào nhà nước và luật của nhà nước ?
3/ Về diện tích sử dụng đất và thời hạn sử dụng :
Thứ trưởng Võ nói rằng « thời hạn giao đất được Luật đất đai quy định là 20 năm. »... « Luật quy định hạn mức được giao đối với một hộ gia đình cá nhân không được vượt quá 2ha »
Về diện tích đất được giao. Khu vực đất của ông Vươn tạo nên là do công sức của ông và gia đình trong việc đắp con đê dài 2km để ngăn lũ và trồng các hàng cây vẹt để giữ đất. Đất của ông Vươn tân tạo được tính từ con đê chận lũ.
Đặt giả thuyết, nếu nhà nước lúc đầu đã qui định ông Vươn chỉ được giao 2 ha đất, thì chắc chắn ông Vươn sẽ không nhận. Vì nhận cũng không làm được gì ! Muốn cải tạo đất thì phải làm con đê chận lũ và trồng vẹt giữ đất bồi. Tức là, hoặc ông Vươn tân tạo được 40 ha đất thổ trạch, hoặc không tạo ra khoảnh đất nào cả. Không ai bỏ công sức làm con đê, trồng rừng vẹt để nhận 2 ha, ngoại trừ việc nhà nước bỏ công để làm (như trường hợp Nguyễn Công Trứ ở huyện Tiền Hải, sẽ nói bên dưới).
Ông Vươn đã được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu vì thế thuộc diện người đang sử dụng đất ổn định (điều 4 phần 3), như vậy đã 17 năm qua.
Qui định ông Vươn chỉ có 2 ha sử dụng là mâu thuẫn với thực tế. Thực tế ở đây là nhà nước hàm ý công nhận quyền sử dụng của ông Vươn trên toàn vùng đất mà ông này khai thác. Trong 17 năm nhà nước không phản đối, thì nhà nước đã chấp nhận thực tế đó.
Nhà nước, qua cơ quan tư pháp, có nhiệm vụ bảo vệ công lý. Nếu hôm nay nhà nước nói ngược lại, thì còn đâu là công lý ?
Về thời hạn được sử dụng đất, theo tôi cũng không thể áp dụng trong trường hợp của ông Vươn. Bởi vì, trong 17 năm sử dụng, thời gian cải tạo khu vực đất không thể không chiết tính ra. Mặt khác, ông Vươn đã đầu tư rất nhiều công và của. Huê lợi thâu từ việc sử dụng đất vẫn chưa trả hết nợ.
Nhà nước không thể vịn vào bất kỳ lý cớ gì để thâu hồi đất này của ông Vươn, như đã nói ở phần 2. Vì nó không công bằng. Ngày xưa, sẽ nói bên dưới, vua chúa có toàn quyền trên số phận của mỗi thần dân, nhưng cũng không có các hành vi bạo ngược trưng thâu đất tư điền một cách tự tiện. Huống chi ngày hôm nay, chế độ xã hội chủ nghĩa, nguyên tắc là đem công bằng cho mọi người trong xã hội. Nhưng trước khi bảo vệ quyền sử dụng đất của mỗi người thì phải tôn trọng nguyên tắc công bằng quyền sử dụng đất của từng cá nhân.
Như vậy còn đâu tính công bằng của XHCN do hiến pháp qui định mà nhà nước phải thực thi ?
4/ Về « tư điền » và sở hữu toàn dân :
Theo Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quí Đôn, một tập tục ngàn năm của Việt Nam được lưu truyền từ đời này sang đời kia, đến trước thời xã hội chủ nghĩa :
« Nếu có người tự đem sức lực của mình khai khẩn những nơi rừng rú bỏ hoang, khi đã thành điền phải khai rõ, liền cho phép coi như là "bản bức tư điền". Chỉ nhà nước mới có quyền thu thóc tô, còn dân xã không được tranh ruộng tư ấy. Cái lệ ấy thành ra vĩnh viễn. »
Tức đất hoang mà người dân bỏ công khai phá, như trường hợp ông Vươn, sẽ thuộc vào loại « bản bức tư điền », tức sẽ trở thành ruộng riêng của ông Vươn (và con cháu sau này của ông).
Một trường hợp khai khẩn đất hoang ở nước ta, vào đầu thế kỷ 19, cần nhắc ở đây, là việc thành lập huyện Tiền Hải ở Nam Định của cụ Nguyễn Công Trứ. Huyện Tiền Hải trước kia vốn là một bãi đất bồi (bãi Tiền Châu), việc khai khẩn gọi là « doanh điền », do cụ Nguyễn Công Trứ hướng dẫn với sự ủng hộ của triều đình qua việc giúp đỡ tiền bạc và dụng cụ khai phá. Những người dân khai khẩn vùng đất mới bồi này, phần lớn được làm chủ các khoản đất do dọ tạo ra (gọi là tư điền) và có bổn phận đóng thuế cho nhà nước.
Dưới thời thực dân cũng thế, người dân nào khai khẩn đất hoang thì đất đó thuộc quyền sở hữu của người đó. Trong khi đó, chính quyền thực dân đã giúp đào kinh chằn chịt khắp nơi để cho dân xả nước phèn, biến một vùng chất đồng chua thành một kho lúa gạo to lớn của miền Nam hiện nay.
Trong khi dưới thời XHCN, đất đai thuộc sở hữu toàn dân, nhưng lại do nhà nước quản lý.
Trường hợp khai khẩn « khu vực đất » của ông Vươn thì không hề được sự giúp đỡ của nhà nước như trường hợp ở đất Tiền Hải.
Nếu thời trước nhà nước phong kiến hay thục dân không trưng thâu đất, mặc dầu việc khai khẩn là có sự trợ giúp của nhà nước về tài chánh và công cụ, thì hôm nay, nhà nước không hề giúp điều gì cho ông Vươn, thì tại sao lại thâu hồi ? Điều này có đi ngược lại đạo lý giống nòi hay không ?
5/ Thủ tục thâu hồi đất, mâu thuẫn giữa XHCN và kinh tế thị trường :
Như đã nói ở điều 2, việc khai khẩn của ông Vươn là một « công trình », gồm nhiều phần : con đê dài 2km, rừng vẹt, đầm nuôi cá, đất trồng trọt và đất xây dựng nhà cửa. Ngoài chi phí vật chất như tiền của, sức lao động, công trình này bao gồm hai thành quả : vật chất và trí tuệ.
Ông Vươn là một kỹ sư. Nếu công trình này không có đóng góp của kiến thức khoa học và việc đầu tư suy nghĩ lâu dài thì khu đất này sẽ không bao giờ được thành tựu như thế. Nếu giao đất cho tay ngang, người này chưa chắc sẽ hình hung ra việc đóng cừ xây đê hay trồng cây vẹt để giữ đất, đó là chưa nói đến việc phải định hướng con đê như thế nào, trồng cây vẹt ra làm sao để khỏi bị sóng đập tan và giữ được đất. Tức công trình đó còn là một công trình của trí tuệ.
Theo hiến pháp và luật định, đất đai sở hữu của toàn dân, do nhà nước quản lý. Nhưng vì có nền « kinh tế thị trường » và gia nhập WTO, do đó nhà nước VN phải tôn trọng các luật lệ do WTO qui định, (theo điều 3 khoản 2 bộ Luật đất đai 2003) trong đó có điều luật phải tôn trọng quyền sở hữu tài sản cũng như sở hữu trí tuệ của tư nhân.
Nhà nước có thể thâu hồi đất mà bỏ qua quyền sở hữu trí tuệ cùng sở hữu tài sản của ông Vươn ? Không giải quyết ổn thỏa là tạo ra sự xung đột giữa hai bộ luật (luật quốc tế và luật quốc gia) mà theo lẽ VN phải đặt luật quốc tế lên trên.
Mâu thuẫn ở đây là mâu thuẫn của nền « kinh tế thị trường » với định hướng « xã hội chủ nghĩa ».
Nhưng sự mâu thuẫn này đã tạo ra tại VN một tầng lớp giàu mới do kinh doanh về đất đai. Con số này chiếm đến 40%. Như thế, việc này gián tiếp tạo cho VN một nền kinh tế què quặc, do việc tư bản nội địa không đầu tư vào kinh doanh hay sản xuất mà đầu tư vào một ngành không tạo ra công ăn việc làm hay của cải vật chất cho xã hội. Nó chỉ mở một môi trường tốt đẹp tại VN cho hàng hóa dỏm của TQ vào thống lĩnh thị trường.
6/ Kết luận : Đôi điều với Thứ Trưởng Võ như thế. Theo tôi, về pháp luật, nếu có sự mâu thuẫn (như đã dẫn ra) thì ánh sáng công lý sẽ không bao giờ rọi dến các nơi tối tăm, ở các vùng sâu, xa, như ở xã Vinh Quang, huyện Tiên lãng, tỉnh Hải Phòng. Việc lên tiếng của ông Võ là một điều tốt, vì nó rất cần thiết cho việc xét xử ông Vươn.
Hy vọng nhiều người khác cũng sẽ làm như thế. Đó cũng là việc công ích cho xã hội.
http://www.pagewash.com/nph-index.cgi/000010A/uggc:/=2fia.360cyhf.lnubb.pbz/gehbataunaghna/negvpyr=3fzvq=3d849
TÌNH CA PHẠM DUY - THÁI THANH ca
TÌNH CA PHẠM DUY - THÁI THANH ca
Thứ Tư, 11 tháng 1, 2012
ĐẢNG TA THẬT SÁNG SUỐT : NHỜ ƠN ĐẢNG ĐÃ CHỈ CHO TA BIẾT BỌN THAM NHŨNG Ở ĐÂU.
Báo cáo kết quả điều tra tham nhũng ở Việt Nam:
10 cơ quan tham nhũng phổ biến nhất
Thứ Tư, 30/11/2005 10:25
Lần đầu tiên, một danh sách 10 cơ quan tham nhũng phổ biến nhất đã được công bố, trong đó ba cơ quan dẫn đầu là: Địa chính nhà đất; Hải quan/quản lý xuất nhập khẩu; và cảnh sát giao thông. Danh sách do Ban Nội chính TW Đảng công bố ngày hôm nay, 30-11.
Người quen cũng không chừa!
Trong danh sách này, có thể kể thêm: Cơ quan tài chính, thuế; Cơ quan quản lý/các đơn vị trong ngành xây dựng; Cơ quan cấp phép xây dựng; y tế; cơ quan kế hoạch và đầu tư; cơ quan quản lý/các đơn vị trong ngành giao thông; công an kinh tế.
Nhóm nghiên cứu đã “bầu chọn” danh sách này từ đánh giá của các nhóm xã hội về mức độ tham nhũng ở 21 cơ quan công quyền và dịch vụ công.
Một so sánh thú vị về tỷ lệ cán bộ, công chức đánh giá tình trạng tham nhũng ở mức “rất phổ biến hoặc tương đối phổ biến” đối với cơ quan báo đài và Địa chính-nhà đất ở Hà Nội, là 8,6% cho báo đài (có tỷ lệ đánh giá thấp nhất) và 66,5% cho Địa chính-nhà đất (có tỷ lệ đánh giá cao nhất).
Những hành vi tham nhũng nào thường xảy ra trong các cơ quan ở danh sách “top ten” nêu trên?
Từ những quy định trong Pháp lệnh Chống tham nhũng năm 1998, nhóm nghiên cứu đã cụ thể hoá thành 17 hành vi tham nhũng. Ở 7 tỉnh mà nhóm nghiên cứu tiến hành điều tra đã có một tỷ lệ đáng kể cán bộ công chức thừa nhận đã gặp cả 17 hành vi trong một năm qua.
Còn ở 3 Bộ, các cán bộ công chức tuy chưa chứng kiến xảy ra tất cả 17 hành vi tham nhũng nhưng cũng đã gặp trên 10 loại hành vi tham nhũng trong năm.
Đặc biệt phổ biến là: “Sử dụng phương tiện của cơ quan phục vụ nhu cầu riêng của cá nhân hoặc gia đình”.
Ở cả 3 Bộ đều có trên 40% số công chức được hỏi cho biết họ đã chứng kiến hành vi “Người có chức vụ, quyền hạn cố tình gây khó khăn khi giải quyết công việc để buộc người cần giải quyết phải chi tiền hoặc quà biếu”.
Trong các hành vi tham nhũng, thì hành vi: “Gọi điện, viết thư tay can thiệp nhằm mưu lợi cho người thân quen khá phổ biến. Tỷ lệ công chức chứng kiến hành vi này, tính chung trong 7 tỉnh là 24,6% (tức khoảng 1/4 số người được hỏi và gần 30% số người trả lời).
Gọi điện, viết thư tay, nếu dẫn đến hành vi tham nhũng bị phát hiện thì tác giả của những cú điện thoại, những bức thư này là “vô can” vì về mặt hình thức, gọi điện, viết thư tay không phải là văn bản pháp lý (về mặt nội dung, họ đủ trình độ để viết sao cho đạt được mục đích nhưng tránh né được pháp luật).
Các hành vi tham nhũng được che giấu bởi các hóa đơn, chứng từ, hợp đồng “thật 100%”, nhưng đằng sau là các thỏa thuận ngầm mà cơ quan bảo vệ pháp luật rất khó kiểm tra, phát hiện.
Chẳng hạn, hình thức “thỏa thuận tăng giá trị hợp đồng để nhận tiền trích % từ bên B” được 35,7% công chức Bộ GT &VT, 30,07% công chức tỉnh Sơn La chứng kiến. Nếu tính chung ở 7 tỉnh, 3 Bộ thì tỷ lệ này là 20,9%!
Vừa tinh vi, tham nhũng lại vừa trắng trợn thể hiện ở chỗ: Người nhận hối lộ không cần che giấu. Họ nhận cả của người quen, để giải quyết công việc nào đó, tức là không sợ tố cáo, không cần che giấu danh tính, địa chỉ của mình.
Theo thống kê, đa số (khoảng 60-70%) người nhận tham nhũng nhận tiền, quà của người quen ở các mức độ khác nhau, trong đó quen lâu năm cũng lên tới10%! Điều đáng lo ngại là nhóm nghiên cứu nhận định khoảng 1/3 cán bộ công chức có thể nhận hối lộ nếu có người đưa.
Chống tham nhũng không hiệu quả vì chưa quyết tâm
Mặc dù cho rằng tham nhũng về cơ bản là hành vi riêng lẻ của từng cá nhân, nhưng nhóm nghiên cứu cũng đi đến nhận định một số trường hợp tham nhũng mang tính tập thể, liên kết thành mạng lưới. Rất khó xác định hành vi tham nhũng là của tập thể hay chỉ là một cá nhân.
Tuy nhiên, ở những nơi nhũng nhiễu, lấy tiền của dân phổ biến hơn thì tỷ lệ cho hành vi cá nhân thường cao nhất, còn ở những vụ lớn, dễ lộ như đất đai (Vụ Đồ Sơn, vụ đảo Phú Quốc…) thì tham nhũng lại thường mang tính tập thể.
Ngay công chức cũng có tới 38% hoàn toàn đồng ý rằng “Do bè cánh, nếu ai không tham nhũng sẽ bị loại ra”. Minh chứng cho tính liên kết, theo kết quả điều tra có tới 21,8% công chức cho rằng trong năm qua đã chứng kiến hiện tượng cấp trên bao che, bảo lãnh cho người vi phạm; Tương tự, 24,6% chứng kiến các quan chức gọi điện, viết thư tay can thiệp vào các vụ việc nhằm giảm nhẹ hoặc gỡ tội cho kẻ vi phạm.
Đối với chủ thể của hành vi tham nhũng, nhóm nghiên cứu cho rằng những người nhận hối lộ đa số là nam giới; đa số là trung niên; những người tham nhũng không nhất thiết phải có chức vụ; tham nhũng xảy ra ở nhiều cấp; và tuyệt đại bộ phận những người tham nhũng là do lòng tham chứ không phải do thu nhập thấp hoặc nghèo đói.
Về hậu quả của tham nhũng, nhóm nghiên cứu đã có nhận định: “Mục đích cuối cùng của những người tham nhũng là làm giàu và giàu hơn nữa, nên tham nhũng không có giới hạn cuối cùng. Nó tăng lên cùng cơ hội.
Chính vì vậy, tài sản của Nhà nước, của nhân dân bị chiếm đoạt tăng dần theo “cấp số nhân”, từ tiền tỷ ở cấp xã đến hàng trăm tỷ trong phạm vi cả nước.
Ngoài thất thoát ở các địa phương, tham nhũng ở các ngành mới là điều đáng kể. Nếu như khoản tiền mà doanh nghiệp bị mất do tệ tham nhũng được coi là chi phí “đen” trong tổng số chi phí của doanh nghiệp, thì theo
Nhóm nghiên cứu hầu hết cán bộ doanh nghiệp đều biết doanh nghiệp của mình hàng năm vẫn có khoản chi phí không chính thức, bất hợp pháp, chỉ có điều là họ không thể biết được chính xác là bao nhiêu.
Đáng chú ý là 8% cán bộ doanh nghiệp đánh giá những khoản chi không chính thức chiếm từ 1% đến trên 10% tổng chi phí, riêng TP.HCM lên đến 13%. Tham nhũng làm cho doanh nghiệp mất chữ tín, chữ tài (tài chính), chữ thời (thời cơ và giới hạn), nghĩa là làm giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Khi đề cập đến nguyên nhân của tham nhũng ở Việt Nam hiện nay, nhóm nghiên cứu đã trích dẫn phát biểu của Nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu vào trong báo cáo của mình như sau: “Tham nhũng ở nước ta là do cả cơ chế lẫn con người”.
Một câu hỏi cần đặt ra là: Vì sao ở nước ta có nhiều Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng, Luật, Pháp lệnh, Nghị định…của Nhà nước liên quan đến phòng, chống tham nhũng; Chúng ta từng có Ban chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, bên cạnh đó, bộ máy Đảng và Nhà nước có đầy đủ các cơ quan kiểm tra, thanh tra, điều tra, kiểm sát, xét xử có chức năng phòng, chống tham nhũng; Đảng và Nhà nước cũng đã phát hiện, xử lý hàng nghìn vụ tham nhũng, hàng vạn cán bộ, nhưng tình trạng tham nhũng vẫn nặng nề và kết quả phòng, chống tham nhũng vẫn còn hạn chế?
Đại đa số các nhóm xã hội đều thống nhất đánh giá người có trách nhiệm chưa quyết tâm chống tham nhũng sẽ gây hạn chế lớn đến thành công của sự nghiệp này.
Trên 80% cán bộ công chức và cán bộ doanh nghiệp (tỷ lệ cao nhất) thống nhất với nhận định như vậy. Đối với người dân, tỷ lệ này xếp thứ hai, nhưng cũng đạt tới 78,1% và gần sát với tỷ lệ cao nhất (78,3% chọn “xử lý chưa nghiêm minh người tham nhũng làm nguyên nhân số 1).
Song, việc xử lý chưa nghiêm minh người tham nhũng cũng chỉ là một biểu hiện của quyết tâm chống tham nhũng chưa cao” mà thôi.
Trong danh sách này, có thể kể thêm: Cơ quan tài chính, thuế; Cơ quan quản lý/các đơn vị trong ngành xây dựng; Cơ quan cấp phép xây dựng; y tế; cơ quan kế hoạch và đầu tư; cơ quan quản lý/các đơn vị trong ngành giao thông; công an kinh tế.
Nhóm nghiên cứu đã “bầu chọn” danh sách này từ đánh giá của các nhóm xã hội về mức độ tham nhũng ở 21 cơ quan công quyền và dịch vụ công.
Một so sánh thú vị về tỷ lệ cán bộ, công chức đánh giá tình trạng tham nhũng ở mức “rất phổ biến hoặc tương đối phổ biến” đối với cơ quan báo đài và Địa chính-nhà đất ở Hà Nội, là 8,6% cho báo đài (có tỷ lệ đánh giá thấp nhất) và 66,5% cho Địa chính-nhà đất (có tỷ lệ đánh giá cao nhất).
Những hành vi tham nhũng nào thường xảy ra trong các cơ quan ở danh sách “top ten” nêu trên?
Từ những quy định trong Pháp lệnh Chống tham nhũng năm 1998, nhóm nghiên cứu đã cụ thể hoá thành 17 hành vi tham nhũng. Ở 7 tỉnh mà nhóm nghiên cứu tiến hành điều tra đã có một tỷ lệ đáng kể cán bộ công chức thừa nhận đã gặp cả 17 hành vi trong một năm qua.
Còn ở 3 Bộ, các cán bộ công chức tuy chưa chứng kiến xảy ra tất cả 17 hành vi tham nhũng nhưng cũng đã gặp trên 10 loại hành vi tham nhũng trong năm.
Đặc biệt phổ biến là: “Sử dụng phương tiện của cơ quan phục vụ nhu cầu riêng của cá nhân hoặc gia đình”.
Ở cả 3 Bộ đều có trên 40% số công chức được hỏi cho biết họ đã chứng kiến hành vi “Người có chức vụ, quyền hạn cố tình gây khó khăn khi giải quyết công việc để buộc người cần giải quyết phải chi tiền hoặc quà biếu”.
Trong các hành vi tham nhũng, thì hành vi: “Gọi điện, viết thư tay can thiệp nhằm mưu lợi cho người thân quen khá phổ biến. Tỷ lệ công chức chứng kiến hành vi này, tính chung trong 7 tỉnh là 24,6% (tức khoảng 1/4 số người được hỏi và gần 30% số người trả lời).
Gọi điện, viết thư tay, nếu dẫn đến hành vi tham nhũng bị phát hiện thì tác giả của những cú điện thoại, những bức thư này là “vô can” vì về mặt hình thức, gọi điện, viết thư tay không phải là văn bản pháp lý (về mặt nội dung, họ đủ trình độ để viết sao cho đạt được mục đích nhưng tránh né được pháp luật).
Các hành vi tham nhũng được che giấu bởi các hóa đơn, chứng từ, hợp đồng “thật 100%”, nhưng đằng sau là các thỏa thuận ngầm mà cơ quan bảo vệ pháp luật rất khó kiểm tra, phát hiện.
Chẳng hạn, hình thức “thỏa thuận tăng giá trị hợp đồng để nhận tiền trích % từ bên B” được 35,7% công chức Bộ GT &VT, 30,07% công chức tỉnh Sơn La chứng kiến. Nếu tính chung ở 7 tỉnh, 3 Bộ thì tỷ lệ này là 20,9%!
Vừa tinh vi, tham nhũng lại vừa trắng trợn thể hiện ở chỗ: Người nhận hối lộ không cần che giấu. Họ nhận cả của người quen, để giải quyết công việc nào đó, tức là không sợ tố cáo, không cần che giấu danh tính, địa chỉ của mình.
Theo thống kê, đa số (khoảng 60-70%) người nhận tham nhũng nhận tiền, quà của người quen ở các mức độ khác nhau, trong đó quen lâu năm cũng lên tới10%! Điều đáng lo ngại là nhóm nghiên cứu nhận định khoảng 1/3 cán bộ công chức có thể nhận hối lộ nếu có người đưa.
Chống tham nhũng không hiệu quả vì chưa quyết tâm
Mặc dù cho rằng tham nhũng về cơ bản là hành vi riêng lẻ của từng cá nhân, nhưng nhóm nghiên cứu cũng đi đến nhận định một số trường hợp tham nhũng mang tính tập thể, liên kết thành mạng lưới. Rất khó xác định hành vi tham nhũng là của tập thể hay chỉ là một cá nhân.
Tuy nhiên, ở những nơi nhũng nhiễu, lấy tiền của dân phổ biến hơn thì tỷ lệ cho hành vi cá nhân thường cao nhất, còn ở những vụ lớn, dễ lộ như đất đai (Vụ Đồ Sơn, vụ đảo Phú Quốc…) thì tham nhũng lại thường mang tính tập thể.
Ngay công chức cũng có tới 38% hoàn toàn đồng ý rằng “Do bè cánh, nếu ai không tham nhũng sẽ bị loại ra”. Minh chứng cho tính liên kết, theo kết quả điều tra có tới 21,8% công chức cho rằng trong năm qua đã chứng kiến hiện tượng cấp trên bao che, bảo lãnh cho người vi phạm; Tương tự, 24,6% chứng kiến các quan chức gọi điện, viết thư tay can thiệp vào các vụ việc nhằm giảm nhẹ hoặc gỡ tội cho kẻ vi phạm.
Đối với chủ thể của hành vi tham nhũng, nhóm nghiên cứu cho rằng những người nhận hối lộ đa số là nam giới; đa số là trung niên; những người tham nhũng không nhất thiết phải có chức vụ; tham nhũng xảy ra ở nhiều cấp; và tuyệt đại bộ phận những người tham nhũng là do lòng tham chứ không phải do thu nhập thấp hoặc nghèo đói.
Về hậu quả của tham nhũng, nhóm nghiên cứu đã có nhận định: “Mục đích cuối cùng của những người tham nhũng là làm giàu và giàu hơn nữa, nên tham nhũng không có giới hạn cuối cùng. Nó tăng lên cùng cơ hội.
Chính vì vậy, tài sản của Nhà nước, của nhân dân bị chiếm đoạt tăng dần theo “cấp số nhân”, từ tiền tỷ ở cấp xã đến hàng trăm tỷ trong phạm vi cả nước.
Ngoài thất thoát ở các địa phương, tham nhũng ở các ngành mới là điều đáng kể. Nếu như khoản tiền mà doanh nghiệp bị mất do tệ tham nhũng được coi là chi phí “đen” trong tổng số chi phí của doanh nghiệp, thì theo
Nhóm nghiên cứu hầu hết cán bộ doanh nghiệp đều biết doanh nghiệp của mình hàng năm vẫn có khoản chi phí không chính thức, bất hợp pháp, chỉ có điều là họ không thể biết được chính xác là bao nhiêu.
Đáng chú ý là 8% cán bộ doanh nghiệp đánh giá những khoản chi không chính thức chiếm từ 1% đến trên 10% tổng chi phí, riêng TP.HCM lên đến 13%. Tham nhũng làm cho doanh nghiệp mất chữ tín, chữ tài (tài chính), chữ thời (thời cơ và giới hạn), nghĩa là làm giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Dự án “Nghiên cứu đấu tranh chống tham nhũng”. Cơ quan thực hiện: Ban Nội chính Trung ương. Cơ quan tài trợ: SIDA - Thụy điển. Nhóm nghiên cứu (chuyên gia trong nước và tư vấn Thụy Điển) đã thực hiện điều tra về tình hình tham nhũng và phòng chống tham nhũng ở 7 tỉnh/thành phố: Sơn La, Hà Nội, Hải Dương, Nghệ An, Thừa Thiên-Huế, TPHCM, Đồng Tháp và 3 Bộ: Công nghiệp; Xây Dựng, GT-VT. Đây là cuộc điều tra về nhận thức, hiểu biết, thái độ, đánh giá của người dân và cán bộ về vấn đề tham nhũng. |
Một câu hỏi cần đặt ra là: Vì sao ở nước ta có nhiều Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng, Luật, Pháp lệnh, Nghị định…của Nhà nước liên quan đến phòng, chống tham nhũng; Chúng ta từng có Ban chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, bên cạnh đó, bộ máy Đảng và Nhà nước có đầy đủ các cơ quan kiểm tra, thanh tra, điều tra, kiểm sát, xét xử có chức năng phòng, chống tham nhũng; Đảng và Nhà nước cũng đã phát hiện, xử lý hàng nghìn vụ tham nhũng, hàng vạn cán bộ, nhưng tình trạng tham nhũng vẫn nặng nề và kết quả phòng, chống tham nhũng vẫn còn hạn chế?
Đại đa số các nhóm xã hội đều thống nhất đánh giá người có trách nhiệm chưa quyết tâm chống tham nhũng sẽ gây hạn chế lớn đến thành công của sự nghiệp này.
Trên 80% cán bộ công chức và cán bộ doanh nghiệp (tỷ lệ cao nhất) thống nhất với nhận định như vậy. Đối với người dân, tỷ lệ này xếp thứ hai, nhưng cũng đạt tới 78,1% và gần sát với tỷ lệ cao nhất (78,3% chọn “xử lý chưa nghiêm minh người tham nhũng làm nguyên nhân số 1).
Song, việc xử lý chưa nghiêm minh người tham nhũng cũng chỉ là một biểu hiện của quyết tâm chống tham nhũng chưa cao” mà thôi.
Theo Tiền Phong
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)

Câu chuyện cưỡng chế bằng sức mạnh để thu hồi đất khai hoang ven biển trước thời hạn giao đất vừa qua ở Tiên Lãng, Hải Phòng là một giọt nước làm tràn ly. Giọt nước này đang xẩy ra ở nhiều nơi, nhưng ở đây thể hiện nhiều điều làm mọi người ở các cương vị khác nhau phải suy nghĩ, bắt đầu từ các Đại biểu Quốc hội sẽ xem xét để thông qua Luật Đất đai mới trước năm 2013, tới các quan chức địa phương đang thực thi và kiểm tra việc thực thi pháp luật đất đai, tới người nông dân bình thường đang lo lắng về đời sống chật vật hàng ngày nhờ vào đất đai. Trong sự việc ở Tiên Lãng, một quyết định sai của UBND huyện về thu hồi đất trước thời hạn do pháp luật quy định là điểm bản lề dẫn tới những sai phạm khác. Không có quyết định này thì không có cưỡng chế và không sự phản kháng của dân trong vô vọng...